Heritage tổng hợp
Trải dài theo hình chữ S, dải đất Việt Nam không chỉ là nơi hội tụ những tuyệt tác cảnh quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của bề dày lịch sử. Sự hình thành, giao thoa và tiếp biến qua hàng thiên niên kỷ lịch sử đã để lại cho dải đất hình chữ S những lớp cổ tầng văn hóa và di chỉ vô giá. Trong số đó, các di sản văn hóa được UNESCO công nhận chính là minh chứng rõ rệt nhất cho sức sống bền bỉ và bản sắc độc lập của dân tộc trên trường quốc tế.
Từ lối kiến trúc cung đình tinh xảo đến trường ca sử thi truyền miệng, danh sách các di sản được UNESCO công nhận trải rộng ở ba loại hình: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể & phi vật thể, và di sản hỗn hợp. Dưới đây, mời bạn đọc cùng Heritage đi sâu vào tận cùng giá trị nguyên bản của những di sản văn hóa thế giới đã được vinh danh tại Việt Nam.
Thành cổ Hội An – di sản văn hóa được UNESCO công nhận nổi tiếng tại Việt Nam
(Nguồn: Unsplash)
1. Việt Nam có bao nhiêu di sản văn hoá được UNESCO công nhận?
Tính đến năm 2026, Việt Nam có 24 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, bao gồm 6 di sản văn hóa thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 1 di sản hỗn hợp. Những di sản này không chỉ phản ánh chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và sức sáng tạo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam mà còn khẳng định vị thế của đất nước trên bản đồ di sản thế giới.
2. Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam
Di sản văn hóa vật thể có thể kể đến chính là những công trình kiến trúc, cảnh quan, tác phẩm nghệ thuật, hoặc những hiện vật có giá trị cho đến ngày nay. Nói về di sản văn hóa vật thể, tại Việt Nam có 5 di sản văn hóa UNESCO công nhận cho đến hiện tại.
2.1 Phố cổ Hội An – Trầm tích thương cảng Faifo
Cái tên đi đầu trong danh sách di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận chính là Phố cổ Hội An, một địa danh tiêu biểu về cảng thị Châu Á truyền thống được xây dựng từ thế kỷ 17, phát triển mạnh mẽ đến thế kỷ 19. Phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30km về phía Nam, đã thu hút không ít các du khách trong và ngoài nước.
Sự hưng thịnh của con đường tơ lụa và gia vị trên biển vào thế kỷ 16-17 đã biến Hội An thành cảng thị sầm uất bậc nhất Châu Á với danh xưng Faifo. Điểm làm nên giá trị cốt lõi của Hội An là “tính bảo tồn sống” của một mô hình thương cảng truyền thống. Khối kiến trúc đô thị tại đây có sự kết dính tinh tế giữa nhà ống mái ngói âm dương của người Việt, cầu ngói của người Nhật (Chùa Cầu) và các hội quán bề thế của hội thương nhân Hoa Kiều. Sự phân lô, chia đường bàn cờ chặt chẽ khẳng định vai trò của một đô thị quy hoạch bài bản. Phố cổ Hội An đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1999.
Lưu ý: Để bảo vệ di sản hàng trăm năm, lõi phố cổ quy định chỉ sử dụng xe đạp hoặc đi bộ vào các khung giờ cấm phương tiện cơ giới.
Vẻ đẹp của di sản văn hóa thế giới – Phố cổ Hội An
(Ảnh: Lê Việt Khánh)
2.2 Thánh địa Mỹ Sơn – Kiệt tác gạch nung Chăm pa
Tiếp theo trong danh sách di sản văn hóa được UNESCO công nhận là khu di sản văn hóa nổi tiếng Thánh địa Mỹ Sơn. Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới với quần thể kiến trúc đền tháp cổ kính, đại diện cho một nền văn minh Chăm pa độc đáo, Thánh địa Mỹ Sơn là một quần thể di tích với nhiều tháp đền thờ thuộc vương quốc cổ Chăm pa. Đại diện cho một nền văn minh độc đáo có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ giáo từ khoảng thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XIII.
Khu đền tháp Mỹ Sơn từng là trung tâm cúng tế linh thiêng của các vương triều Chăm pa trong suốt 9 thế kỷ. Phản ánh tư tưởng Ấn Độ giáo, quần thể 71 ngôi đền tháp được xây dựng mô phỏng trung tâm vũ trụ (đỉnh Meru), thờ phụng vị thần bảo hộ Shiva. Điều làm giới học giả toàn cầu kinh ngạc trước Mỹ Sơn là kỹ thuật xây gạch không sử dụng mạch vữa lộ rõ nhưng vẫn đứng vững chãi, cùng những mảng hoa văn được chạm trổ trực tiếp trên gạch nung một cách tinh xảo. Kiến trúc Kalan tiêu biểu với các thân tháp thu đều lên đỉnh tạo cho Mỹ Sơn nét thần bí tột cùng.
Lưu ý: Mức giá vé tham quan thường đã bao gồm dịch vụ xe điện trung chuyển tại trạm vào.
2.3 Cố Đô Huế – Quần thể kiến trúc Vauban vĩ đại
Cùng với Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn tạo nên bộ ba di sản văn hóa thế giới nổi tiếng bậc nhất của dải đất miền Trung, Cố Đô Huế là một trong những di tích lịch sử, văn hóa có từ triều Nguyễn, tọa lạc tại kinh đô Huế xưa, nay là tỉnh Thừa Thiên Huế. Cố Đô Huế trở thành di sản văn hoá Việt Nam được UNESCO công nhận từ năm 1993.
Tọa lạc dọc hai bên bờ sông Hương, Cố Đô Huế ứng dụng triết lý phong thủy phương Đông với thế ‘tiền án hậu chẩm’, mượn núi Ngự Bình làm bình phong và dòng sông Hương làm minh đường. Điểm nhấn của Đại Nội Huế là sự ứng dụng hệ thống phòng thủ kiểu Vauban (Pháp) hòa nhịp cùng kiến trúc đình tạ Á Đông. Từ Ngọ Môn lầu ngũ phụng uy nghi đến Điện Thái Hòa lợp ngói hoàng lưu ly, hệ thống cung điện, lăng tẩm hoàng gia triều Nguyễn là bản giao hưởng hoàn mỹ của nghệ thuật trang trí cung đình, chạm khắc gỗ và pháp lam.
Quần thể kiến trúc Cố đô Huế chính là đỉnh cao trưng bày những thành tựu văn hóa nghệ thuật xuất sắc dưới thời kỳ nhà Nguyễn. Không chỉ dừng lại ở hệ thống cung điện, thành quách uy nghiêm theo kiến trúc Vauban kết hợp phong thủy Á Đông, di sản thời Nguyễn còn được UNESCO ghi danh qua nhiều loại hình khác như Nhã nhạc cung đình (Âm nhạc Hoàng gia) và các di sản tư liệu vô giá như Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn – những văn bản hành chính ngự phê bằng mực son khẳng định chủ quyền lãnh thổ đanh thép.
Lưu ý: Không gian cung cấm đòi hỏi tính trang nghiêm, du khách cần mang trang phục kín đáo (không quần/váy ngắn).
Lăng Tự Đức – một phần trong quần thể di tích Cố Đô Huế
(Ảnh: JJunie L)
2.4 Hoàng thành Thăng Long – Tầng văn hoá chồng lấp nghìn năm
Một cái tên khác trong danh sách di sản văn hóa thế giới mang lại niềm tự hào cho Hà Nội chính là Hoàng thành Thăng Long. Đây cũng là quần thể di tích lịch sử lâu đời đã trải qua hàng thế kỷ cũng như chứng kiến sự suy thịnh của nhiều triều đại lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 7.
Hoàng thành Thăng Long không chỉ vĩ đại bởi bề mặt, mà bởi “lớp từ điển móng nền khảo cổ” dưới lòng đất. Quần thể này bảo lưu liên tục các thời kỳ lịch sử độc lập chồng lên nhau: Từ di tích thành Đại La (thời đô hộ), qua thời Lý, Trần, móng cung điện thời Lê sơ cho tới dấu tích kiến trúc thời Nguyễn. Trục trung tâm mang đậm tính quyền lực được thể hiện rõ ở nền Điện Kính Thiên với đôi rồng đá kiệt tác thế kỷ 15, và cổng Đoan Môn trường tồn. Sự tiếp nối dòng sinh mệnh thủ đô hơn nghìn năm là căn cứ cốt lõi để di sản này tự tin ghi danh.
Lưu ý: Đoạn tour đêm “Giải mã Hoàng Thành” là trải nghiệm ánh sáng và khảo cổ học sắc sảo nên được thử một lần tại Hà Nội.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, Hoàng thành Thăng Long vẫn là một công trình kiến trúc cực kỳ đồ sộ, được nhiều triều vua xây dựng và tu sửa. Đến năm 2010, Hoàng thành Thăng Long chính thức là di sản văn hóa được UNESCO công nhận.
2.5 Thành Nhà Hồ – Công trình đá nguyên khối độc bản
Thành Nhà Hồ được xây dựng vào thế kỷ XIV, là một đại diện nổi bật cho phong cách kiến trúc mới của kinh thành khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là một minh chứng cho sự phồn thịnh của Nho giáo tại Việt Nam và Đông Á nói chung vào thế kỷ thứ XIV. Nét đẹp cảnh quan của Thành Nhà Hồ là sự giao thoa giữa đồng bằng sông Mã và sông Bưởi, cùng với sự hùng vĩ của núi non.
Nằm giữa đồng bằng sông Mã, Thành Nhà Hồ dựng lên như một pháo đài thép minh chứng cho đỉnh cao kỹ thuật cơ học cuối thế kỷ 14. Dưới lệnh Hồ Quý Ly, quân dân đã vận chuyển, đục đẽo và ghép nối khô hàng ngàn phiến đá xanh nguyên khối khổng lồ (có viên nặng lên tới 20 tấn) bằng kỹ thuật xếp chồng thắt nút mà không cần keo dính. Trải qua mưa bom bão đạn và đứt gãy lịch sử, hệ thống cổng đá vòm cuốn của Thành Nhà Hồ vẫn đứng nguyên vẹn, xứng danh kỳ quan cơ khí quân sự Đông Nam Á. Đến năm 2011, Thành Nhà Hồ trở thành di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận.
Lưu ý: Bờ thành đá rêu phong và bao quanh là ruộng lúa trải dài nên xe điện địa phương là phương tiện di chuyển lý tưởng nhất trong khu di tích.
Thành nhà Hồ – Tòa thành kiên cố với nhiều điểm kiến trúc độc đáo
(Ảnh: Báo Người Lao Động)
2.6 Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc
Được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 2025, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc trải rộng trên ba địa phương gồm Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương. Đây là di sản liên tỉnh đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận.
Di sản gắn liền với sự hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm – dòng Phật giáo do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập vào thế kỷ XIII. Quần thể bao gồm hàng trăm di tích lịch sử, tôn giáo và khảo cổ như núi Yên Tử, chùa Vĩnh Nghiêm, khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc cùng hệ thống rừng tự nhiên, cảnh quan núi non và các tuyến hành hương được bảo tồn qua nhiều thế kỷ.
Không chỉ mang giá trị về kiến trúc và cảnh quan, di sản còn phản ánh sự giao thoa giữa tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, thể hiện triết lý “hòa hợp với thiên nhiên” và tinh thần nhập thế đặc trưng của Thiền phái Trúc Lâm.
Lưu ý: Mùa xuân (tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch) là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội hành hương lớn, thu hút hàng triệu du khách và Phật tử mỗi năm
3. Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam
Bên cạnh 5 di sản văn hóa vật thể, Việt Nam cũng được UNESCO công nhận nhiều di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:
3.1 Nhã nhạc cung đình Huế
Đi đầu trong danh sách chính là một thể loại nhạc tiêu biểu của cung đình Huế thời phong kiến, thường được biểu diễn tại các lễ hội lớn với sự chứng kiến của Vua cùng nhiều quan lớn triều đình. Đến hiện nay, Nhã nhạc cung đình Huế đã trở thành di sản văn hóa được UNESCO công nhận cấp thế giới, được con người Việt Nam giữ gìn và phát triển đến các thế hệ sau.
3.2 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Vào năm 2015, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là một trong những kiệt tác phi vật thể nhân loại. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: nhạc cụ cồng chiêng và các bản nhạc tấu, người chơi, lễ hội sử dụng cồng chiêng cùng những địa điểm tổ chức.
Cồng chiêng Tây Nguyên là thanh âm vật tổ. Trong tín ngưỡng vạn vật hữu linh (Animism), chiêng là thứ duy nhất có thể chuyển tải lời nguyện cầu của con người đến với Yàng (thần linh). Sự tinh tế nằm ở chỗ: chiêng không có phím, sự hòa thanh đến từ sức mạnh tập thể của hàng chục nghệ nhân, mỗi người đánh một nhịp để dệt nên một bản trường ca âm bổng.
Để được trải nghiệm không gian này, các du khách chắc chắn phải ghé đến những buôn làng Tây Nguyên với các cụm nhà rông nhà rươi. Đặc biệt là đến vào những thời điểm lễ hội như Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước,….
3.3 Dân ca Quan họ
Khi nhắc đến Bắc Ninh, chắc chắn hầu hết mọi người đều nghĩ đến một làn điệu dân ca vô cùng nổi tiếng, đó là Dân ca Quan họ. Với nhiều nét độc đáo và giá trị về văn hóa, con người, Dân ca Quan họ mang cấu trúc xã hội độc đáo qua mỹ tục “Kết chạ” (cam kết giao hảo trọn đời giữa hai làng, không lấy nhau). Trong hát Quan họ, lối hát tuân theo nguyên tắc hát đúm, hát đối “Vang, rền, nền, nảy” mà không cần nhạc cụ đệm, biểu hiện cao nhất của sự tinh tế, đằm thắm trong ứng xử truyền thống của liền anh, liền chị. Dân ca Quan họ đã trở thành di sản văn hóa Việt Nam UNESCO công nhận vào năm 2009
Di sản văn hóa được UNESCO công nhận Dân ca Quan họ Bắc Ninh
(Ảnh: Báo Dân tộc và Phát triển)
3.4 Ca trù
Được hình thành từ thế kỷ thứ 15, hát ca trù là một loại hình nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam, đã từng được trình diễn trong cung đình, trước những tầng lớp trí thức và quý tộc Việt. Ca trù (hát ả đào) phát triển thành một loại hình nghệ thuật thính phòng thâm thúy bậc nhất phía Bắc. Cái hồn của Ca trù nằm ở nhịp gõ phách cấu trúc 5 – 3 của đào nương và tiếng trống chầu điểm nhịp của quan viên. Nền thi ca hát nói, bác học, kén người nghe đã khẳng định đẳng cấp tri thức của di sản ca trù. Ca trù được xem là một di sản văn hóa phi vật thể với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc.
3.5 Hội Gióng
Thánh Gióng là một truyền thuyết dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ người Việt. Đến nay, Thánh Gióng cũng là một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Do đó, tại nhiều địa phương Việt Nam vẫn giữ văn hóa hội Gióng để ca ngợi và tưởng nhớ đến chiến công của Thánh Gióng trong truyền thuyết xưa. Bức tranh dân gian về Thánh Gióng – 1 trong Tứ bất tử của Việt Nam – không chỉ nhằm ca ngợi chiến công giữ nước mà còn khắc họa tư tưởng nông nghiệp trị thủy. Hội Gióng tại đền Phù Đổng hay đền Sóc mô phỏng lại hệ thống trận pháp, sự phân công trách nhiệm làng xã chặt chẽ qua vai diễn “Ông Hiệu”, “Cô Tướng”, thể hiện tổ chức cộng đồng khăng khít.
Để được chiêm ngưỡng Hội Gióng là di sản văn hóa được UNESCO công nhận, các du khách có thể đến đền Phù Đổng (Gia Lâm) hoặc đền Sóc (huyện Sóc Sơn) tại Hà Nội.
3.6 Hát xoan Phú Thọ
Hát Xoan là một cách hát thờ thần, tương truyền có từ thời vua Hùng và vẫn được gìn giữ đến thời điểm hiện nay. Đến năm 2011, Hát xoan Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể cấp thế giới.
Hát xoan Phú Thọ được bảo tồn và phát huy di sản bao đời
(Ảnh: Báo Dân tộc và Phát triển)
3.7 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Di sản này minh chứng cho năng lực đoàn kết sâu thẳm của dân tộc Việt qua đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Bất kể không gian và thời gian, Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 đem lại một trụ cột tâm linh để đại gia đình 54 dân tộc anh em có cùng một sợi dây liên kết chung – tinh thần “Đồng Bào”.
Tại Phú Thọ, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vẫn được người dân gìn giữ và lưu truyền đến những thế hệ sau. Không chỉ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, tín ngưỡng này còn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam ghi danh là di sản cấp quốc gia.
3.8 Đờn ca tài tử
Sinh ra ở thời kỳ khai hoang Nam Bộ (thế kỷ 19), Đờn ca tài tử là sự biến tấu cởi mở từ Nhã nhạc cung đình Huế và âm nhạc dân gian vùng đất mới. Tính “Tài tử” (người có tài nghệ) thể hiện ở nét phóng khoáng, tùy hứng, thường diễn xướng trên ghe thuyền, ruộng miệt vườn, trở thành món ăn tinh thần tri âm tri kỷ của lưu dân.
Năm 2013, Đờn ca tài tử đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp thế giới.
Đờn Ca Tài Tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể từ năm 2013
(Ảnh: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch)
3.9 Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
Mang đậm hơi thở của vùng đất Nghệ An và Hà Tĩnh, Dân ca Ví, Giặm là loại hình diễn xướng dân gian gắn liền với lao động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân xứ Nghệ. Với giá trị nghệ thuật và nhân văn sâu sắc, di sản này được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2014. Những làn điệu mộc mạc, sâu lắng không chỉ phản ánh tình yêu quê hương mà còn thể hiện tinh thần lạc quan, nghĩa tình và sự gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.
3.10 Nghi lễ và trò chơi kéo co
Ít ai biết rằng trò chơi kéo co quen thuộc lại mang ý nghĩa tín ngưỡng và văn hóa sâu sắc trong nhiều cộng đồng châu Á. Năm 2015, UNESCO đã ghi danh Nghi lễ và trò chơi kéo co vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo hồ sơ đa quốc gia giữa Việt Nam, Hàn Quốc, Campuchia và Philippines. Tại Việt Nam, kéo co không chỉ là trò chơi dân gian mà còn là nghi lễ cầu mùa, cầu mưa thuận gió hòa, phản ánh tinh thần đoàn kết và sức mạnh cộng đồng.
3.11 Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là một trong những nét đặc sắc nhất trong đời sống tâm linh của người Việt, tôn vinh hình tượng người Mẹ với vai trò che chở và ban phúc cho con người. Di sản được UNESCO ghi danh vào năm 2016 nhờ những giá trị văn hóa đặc biệt thể hiện qua nghi lễ hầu đồng, âm nhạc, trang phục và nghệ thuật diễn xướng dân gian. Đây cũng là minh chứng cho sức sống bền bỉ của tín ngưỡng bản địa trong xã hội hiện đại.
3.12 Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ
Xuất hiện phổ biến tại các tỉnh duyên hải miền Trung, Nghệ thuật Bài Chòi là sự kết hợp hài hòa giữa hát hô, kể chuyện, diễn xuất và trò chơi dân gian. Năm 2017, loại hình nghệ thuật độc đáo này được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Không chỉ mang giá trị giải trí, Bài Chòi còn góp phần bảo tồn tiếng nói, phong tục và đời sống văn hóa của cư dân miền Trung.
3.13 Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái
Trong đời sống văn hóa của đồng bào Tày, Nùng và Thái, Then giữ vai trò là nghi lễ tín ngưỡng quan trọng, kết nối con người với thế giới tâm linh thông qua tiếng đàn tính và lời hát truyền thống. Năm 2019, UNESCO chính thức ghi danh Thực hành Then vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là sự ghi nhận dành cho những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian được lưu truyền suốt nhiều thế kỷ.
3.14 Nghệ thuật Xòe Thái
Những vòng xòe rộn ràng đã trở thành biểu tượng văn hóa của đồng bào dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Với ý nghĩa thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng hiếu khách và sự gắn bó cộng đồng, Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh vào năm 2021. Đến nay, các điệu xòe vẫn hiện diện trong hầu hết lễ hội truyền thống, trở thành nét đẹp văn hóa đặc trưng của núi rừng Tây Bắc.
3.15 Nghề làm gốm của người Chăm
Lưu giữ kỹ thuật thủ công truyền thống hàng trăm năm, nghề làm gốm của người Chăm tại Ninh Thuận là một trong số ít nghề gốm trên thế giới vẫn tạo hình hoàn toàn bằng tay và nung lộ thiên. UNESCO đã đưa di sản này vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022, nhằm góp phần bảo tồn những tri thức bản địa quý giá đang đứng trước nguy cơ mai một. Mỗi sản phẩm gốm đều phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa và đời sống của cộng đồng người Chăm.
3.16 Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
Là lễ hội tín ngưỡng lớn nhất khu vực Nam Bộ, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam thu hút hàng triệu lượt người hành hương mỗi năm. Năm 2024, UNESCO ghi danh lễ hội này là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nhờ những giá trị nổi bật về tín ngưỡng dân gian, sự gắn kết cộng đồng và vai trò trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa vùng Tây Nam Bộ. Lễ hội cũng phản ánh đời sống tâm linh phong phú của cư dân đồng bằng sông Cửu Long.
3.17 Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ
Từ bao đời nay, làng Đông Hồ (Bắc Ninh) đã nổi tiếng với những bức tranh in mộc bản trên giấy điệp cùng màu sắc được chế tác hoàn toàn từ nguyên liệu thiên nhiên. Đến năm 2025, UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, đánh dấu bước tiến quan trọng trong nỗ lực bảo tồn một nghề thủ công truyền thống có lịch sử hàng trăm năm. Không chỉ mang giá trị nghệ thuật, tranh Đông Hồ còn phản ánh sinh hoạt, phong tục và triết lý sống của người Việt qua nhiều thế hệ.
4. Di sản văn hóa hỗn hợp được UNESCO công nhận tại Việt Nam
Quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình chính là các tên duy nhất được điểm danh tại di sản văn hóa hỗn hợp được UNESCO công nhận cho đến thời điểm hiện tại. Tràng An không chỉ sở hữu danh thắng quyến rũ bậc nhất với đầy đủ các địa hình từ sông ngòi, đầm lầy, núi non nối liền nhau, mà còn sở hữu nhiều khu di tích khác như Khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư.
Đến năm 2014, Quần thể danh thắng Tràng An trở thành di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Đồng thời cũng chính thức là di sản văn hóa hỗn hợp duy nhất tại Việt Nam và Đông Nam Á.
Danh thắng Tràng An, Ninh Bình – Di sản văn hóa hỗn hợp cấp thế giới được UNESCO công nhận
(Ảnh: Jonathan Ouimet)
Trên đây là tổng hợp các di sản văn hóa được UNESCO công nhận cho đến thời điểm hiện nay, bao gồm các loại di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản hỗn hợp cùng các di sản tư liệu được công nhận cấp thế giới. Mỗi di sản văn hóa được công nhận không chỉ khẳng định nét đẹp Việt Nam qua nhiều thế hệ, còn góp phần khẳng định giá trị về mặt văn hóa lẫn lịch sử của dân tộc Việt Nam từ trước đến nay.






















