Heritage tổng hợp
TSức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở những công trình kiên cố, mà trước hết tồn tại trong những điệu múa, lời ca, và niềm tin tâm linh được trao truyền qua vạn thế hệ. Tính đến nay, Việt Nam đã tự hào đóng góp 17 Di sản văn hóa phi vật thể vào kho tàng chung của UNESCO. Không chỉ là đại diện cho bề dày hàng ngàn năm văn hiến, những di sản đại diện và bảo vệ khẩn cấp này chính là “bảo tàng sống” giữ lại cái hồn cốt vẹn nguyên của 54 dân tộc anh em.
Việt Nam với 15 di sản văn hóa phi vật thể thế giới được UNESCO công nhận
(Ảnh: Tuổi trẻ Thủ Đô)
Bài viết liên quan:
- Nhã nhạc Cung đình tại xứ Huế mộng mơ
- Hò dân gian – những nét đẹp lưu giữ văn hoá Việt
- Đằm thắm điệu hò dân ca Bắc Trung Bộ
1. Nhã nhạc cung đình Huế (UNESCO ghi danh năm 2003)
Nhã nhạc cung đình xuất hiện vào những năm đầu của triều Lý (1010-1225), nhưng chỉ thực sự đạt đến độ rực rỡ và hoàn thiện dưới triều Nguyễn (1802-1945). Đây là loại hình âm nhạc tao nhã, thiêng liêng, thường dùng trong các dịp đại lễ trang nghiêm của triều đình và cúng tế thần linh. Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế, phát triển theo mô thức quy phạm chặt chẽ với hàng trăm nhạc chương, phản ánh tư tưởng và quan niệm triết lý của chế độ quân chủ đương thời qua các định chế thẩm mỹ rất cao. Dưới triều đại này, nhã nhạc được công nhận vị trí chính thức và trở thành biểu tượng về quyền uy và sự trường thọ của triều đại.
Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Đây là di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam đầu tiên được ghi danh vào danh mục này, thành quả cho nỗ lực 10 năm bền bỉ của Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản độc đáo này.

2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (UNESCO ghi danh năm 2005)
Trải dài qua 5 tỉnh Tây Nguyên, di sản này gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc Ê Đê, Ba Na, Gia Rai… Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn là sợi dây kết nối giữa con người với thế giới tâm linh và đấng thần linh. Âm thanh cồng chiêng vang lên trong các lễ hội từ mừng lúa mới đến bỏ mả, diễn tả mọi cung bậc cảm xúc của cộng đồng, trở thành bản sắc văn hóa riêng biệt, không thể tách rời của đại ngàn.
Ngày 25/11/2005, di sản này được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
(Ảnh: Heritage tổng hợp)
3. Dân ca Quan họ Bắc Ninh (UNESCO ghi danh năm 2009)
Là hình thức hát giao duyên đặc trưng của vùng Kinh Bắc, Quan họ cuốn hút bởi giai điệu đằm thắm và lời ca giàu tính triết lý. Điểm độc đáo nằm ở kỹ thuật hát “vang, rền, nền, nảy” cùng lối ứng xử văn hóa tinh tế giữa các liền anh, liền chị. Với hơn 213 làn điệu phong phú, Quan họ đã đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc dân tộc, thể hiện sự gắn kết cộng đồng sâu sắc qua những canh hát đối đáp mộc mạc mà đầy nghệ thuật.
Dân ca quan họ Bắc Ninh còn giữ nguyên được giá trị cho đến tận bây giờ với giai điệu đặc sắc, lời ca tinh tế, giàu triết lý cùng trang phục đặc biệt không có ở đâu khác. Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam này đã được UNESCO ghi danh vào ngày 30/9/2009 với hạng mục di sản văn hóa phi vật thể.

4. Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (UNESCO ghi danh năm 2010)
Lễ hội diễn ra hàng năm nhằm tôn vinh Thánh Gióng – một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hội Gióng tái hiện sinh động trận chiến của thánh Gióng cùng người dân Âu Lạc chống giặc Ân, qua đó gửi gắm khát vọng về một nền hòa bình vững bền và sự thịnh vượng cho quốc gia. Đây là “bảo tàng sống” về văn hóa, truyền dạy lòng yêu nước và ý thức hướng về cội nguồn cho các thế hệ nối tiếp.
Ngày 16/11/2010, Hội Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Hội Gióng thể hiện cho tấm lòng hướng về cội nguồn của người Việt
(Ảnh: ditichkhanhhoa.org)
5. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (UNESCO ghi danh năm 2012)
Thờ cúng Hùng Vương là tín ngưỡng lâu đời của mọi người dân Việt Nam thể hiện lòng thành kính đối với các bậc Thủy tổ đã có công dựng nước, tín ngưỡng này là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Tập trung tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, nghi lễ Giỗ Tổ vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm không chỉ là sự tri ân công đức tổ tiên mà còn là sợi dây tâm linh thắt chặt tình nghĩa đồng bào, khẳng định nguồn gốc “con Rồng cháu Tiên” chung một cội rễ.
UNESCO công nhận đây là di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào ngày 6/12/2012.
6. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ (UNESCO ghi danh năm 2013)
Phát triển từ cuối thế kỷ XIX, Đờn ca tài tử là sự kết hợp tinh túy giữa nhạc lễ cung đình và những giai điệu ngọt ngào của dân ca miền Nam. Loại hình này phản ánh tâm hồn phóng khoáng, nghĩa hiệp và cần cù của người dân vùng miệt vườn sông nước. Với phạm vi ảnh hưởng rộng khắp 21 tỉnh thành phía Nam, đây là món ăn tinh thần không thể thiếu trong các dịp sinh hoạt cộng đồng và lễ hội địa phương.
Nét văn hóa đặc biệt này đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 5/12/2013. Đây là danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam.
Đờn ca tài tử, loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ
(Ảnh: Pinterest)
7. Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (UNESCO ghi danh năm 2014)
Đây là hai lối hát dân ca không nhạc đệm, nảy sinh từ quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt của người dân xứ Nghệ. Lời ca Ví, Giặm mộc mạc nhưng giàu tính nhân văn, phản ánh sâu sắc cốt cách, trí tuệ và tâm hồn của cộng đồng cư dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Di sản này được truyền dạy chủ yếu bằng hình thức truyền khẩu, gắn liền với các phường nghề truyền thống xưa kia.
Năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Vào ngày 27/11/2014, loại hình nghệ thuật này chính thức trở thành một trong những di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại Việt Nam đầu tiên được UNESCO vinh danh.
8. Nghi lễ và trò chơi kéo co (UNESCO ghi danh năm 2015)
Tập trung tại vùng trung du, đồng bằng sông Hồng và các tộc người miền núi phía Bắc, kéo co mang đậm dấu ấn của nghi lễ nông nghiệp. Trò chơi không chỉ thử thách sức mạnh mà còn là nghi thức cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đây là hồ sơ đa quốc gia, minh chứng cho sự tương đồng văn hóa lúa nước và tinh thần gắn kết cộng đồng của các dân tộc khu vực Đông Á.
Mang đậm dấu ấn của nghi thức nông nghiệp, kéo co đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cho 4 tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hà Nội vào ngày 2/12/2015.
9. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt (UNESCO ghi danh năm 2016)
Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự hỗn dung giữa tôn giáo bản địa và các yếu tố Đạo giáo, Phật giáo, tôn vinh người phụ nữ trong vai trò bảo trợ sự sống. Nghi lễ Lên đồng với âm nhạc Chầu văn, trang phục rực rỡ và diễn xướng dân gian được coi là một “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử và bản sắc tộc người, đáp ứng khát vọng về sức khỏe, may mắn và tài lộc trong đời sống thường nhật.
Nghi lễ trung tâm của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ là Lên Đồng với các hoạt động đầy tính nghệ thuật là hát văn và múa thiêng với trang phục độc đáo, Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam này thể hiện niềm tin của người Việt vào sự giáng nhập của các vị thánh thần, đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể vào ngày 1/12/2016.
Di sản văn hóa phi vật thể Thờ Mẫu Tam Phủ là tín ngưỡng tâm linh đặc sắc của người Việt
(Ảnh: Gia Linh)
10. Hát Xoan Phú Thọ (UNESCO ghi danh năm 2011 & 2017)
Bắt nguồn từ hình thức hát thờ các Vua Hùng, Hát Xoan là nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của vùng Đất Tổ. Nghệ thuật này bao gồm hát thờ, hát nghi lễ và hát hội, kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, thơ ca và vũ đạo.
Nghệ thuật hát Xoan gồm hát, múa, gõ trống và phách, được thực hành nhằm thể hiện lòng biết ơn với tổ tiên, vua Hùng và mong cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật dân gian này bắt nguồn từ sự kết hợp mộc mạc giữa âm nhạc, thơ, vè và giọng Phú Thọ địa phương. Hát Xoan được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 24/11/2011.
Với nỗ lực bảo tồn bền bỉ, Hát Xoan đã trở thành di sản đầu tiên được UNESCO đưa ra khỏi danh sách bảo vệ khẩn cấp để ghi danh vào danh sách di sản đại diện của nhân loại vào năm 2017.
11. Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ (UNESCO ghi danh năm 2017)
Là sự kết hợp độc đáo giữa âm nhạc, thơ ca, diễn xướng và hội họa, Bài chòi ra đời từ nhu cầu giải trí và liên lạc giữa các chòi canh nương rẫy. Với lối diễn xướng ngẫu hứng, đầy trí tuệ và vui nhộn, Bài chòi không chỉ là trò chơi dân gian mà còn là hình thức truyền tải các giá trị đạo đức, nhân văn sâu sắc của người dân các tỉnh ven biển miền Trung.
Không chỉ vậy, đây còn là hình thức giải trí thú vị giàu trí tuệ, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 7/12/2017.
Bài Chòi Trung Bộ, nét văn hóa đáng để thưởng thức ít nhất một lần trong đời
(Ảnh: Tutukit)
12. Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (UNESCO ghi danh năm 2019)
Then là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp gồm ca, nhạc, múa và diễn trò, gắn liền với cây đàn Tính. Đây là nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh, phản ánh quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của cộng đồng các dân tộc vùng núi phía Bắc. Thực hành Then được sử dụng trong các lễ cầu an, chúc phúc, thể hiện sự kế tục văn hóa bền chặt giữa các thế hệ.
Mang trong mình nhiều ý nghĩa đặc biệt như vậy, Then được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 12/12/2019.
13. Ca trù (UNESCO ghi danh năm 2009)
Còn gọi là hát ả đào, đây là loại hình nghệ thuật thính phòng bác học có lịch sử từ thế kỷ 15. Ca trù là sự giao hòa tinh tế giữa thi ca và âm nhạc, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa đào nương, kép đàn đáy và quan viên cầm trống chầu. Mỗi bản nhạc không chỉ là tiếng hát mà còn là một không gian thẩm mỹ cổ kính, sang trọng, mang đậm tư duy triết lý và chiều sâu văn hóa của người Việt xưa.
Ca trù gắn liền với các lễ hội và tín ngưỡng của người Việt, được ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể cần Bảo vệ khẩn cấp của nhân loại vào 1/10/2009.
Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể mang giá trị nghệ thuật và nhân văn sâu sắc
(Ảnh: CVD)
14. Xòe Thái (UNESCO ghi danh năm 2021)
Xòe Thái là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Thái ở Việt Nam, đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 15/12/2021. Xòe không chỉ là điệu múa mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Thái. Nguồn gốc của Xòe bắt nguồn từ các hoạt động lao động, sinh hoạt hàng ngày, qua thời gian được sáng tạo, phát triển thành nhiều điệu múa phong phú.
Xòe Thái mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc, thể hiện tình đoàn kết, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên và cuộc sống. Với những giá trị văn hóa độc đáo, Xòe Thái đã trở thành một biểu tượng văn hóa đặc trưng của người Thái và góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam.
15. Nghề làm gốm của người Chăm (UNESCO ghi danh năm 2022)
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 29/11/2022. Quyết định này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của một trong những làng nghề gốm cổ nhất Đông Nam Á. Với kỹ thuật làm gốm độc đáo, sử dụng bàn xoay thủ công và nguyên liệu tự nhiên, người Chăm đã tạo ra những sản phẩm gốm đặc trưng, làm phong phú kho tàng văn hóa tại Việt Nam. Việc UNESCO ghi danh là sự ghi nhận xứng đáng cho những giá trị văn hóa mà nghề gốm Chăm mang lại.
16. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (UNESCO ghi danh năm 2024)
Lễ hội là sự tổng hòa tín ngưỡng thờ Mẫu của các cộng đồng Việt, Chăm, Khmer và Hoa tại vùng đất Châu Đốc, An Giang. Thông qua các nghi thức tâm linh và diễn xướng nghệ thuật, người dân thể hiện lòng biết ơn đối với Mẹ Đất đã che chở và phù hộ cho cuộc sống bình an, thịnh vượng. Di sản này minh chứng cho quá trình khẩn hoang và sự giao thoa văn hóa đặc sắc tại vùng đất Tây Nam Bộ.
17. Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (UNESCO ghi danh năm 2025)
Có lịch sử khoảng 500 năm tại Bắc Ninh, tranh Đông Hồ nổi tiếng với kỹ thuật in khắc gỗ trên giấy điệp và màu sắc tự nhiên từ cây cỏ. Mỗi bức tranh không chỉ là tác phẩm nghệ thuật đồ họa độc đáo mà còn chứa đựng những ẩn ý, lời răn dạy về đạo đức và cái nhìn lạc quan đối với cuộc sống. Việc ghi danh vào danh sách bảo vệ khẩn cấp khẳng định giá trị di sản cần được bảo tồn trước những biến động của đời sống hiện đại.

Bên cạnh 17 di sản văn hóa phi vật thể thế giới được UNESCO công nhận, Việt Nam vẫn còn rất nhiều nét đẹp được truyền thừa từ các đời cha ông. Không chỉ đóng vai trò như những điểm nhận diện văn hóa của Việt Nam, những di sản văn hóa quý báu này còn thực sự trở thành một nguồn tài nguyên vô giá mang tới cơ hội phát triển kinh tế cho nhiều địa phương. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của các di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam này chính là nhiệm vụ chung của toàn thể dân tộc.
Bài viết liên quan:


















