Bài: Buôn Krông Tuyết Nhung
Ảnh: Amachau

Voi – một loài động vật hoang dã trong rừng xanh đã trở thành người bạn thân thân thiết với người Tây Nguyên từ ngàn đời.

Nào con gái! Nữ thần Mặt trời đã trở mình, con hãy khơi ngọn lửa trong gian khách ngôi nhà dài để cha cùng anh trai đi bắt cá ở hồ Nam Kar! Khi ngọn lửa đã khêu, bước chân của già làng và đứa con trai dũng mãnh như con tê giác của ông cùng lũ làng tiến về hồ Nam Kar. Lúc Nữ thần Mặt trời chếch bóng, những con cá nướng béo ngậy của các cô gái đem lại nguồn năng lượng cho các chàng trai. Sau khi ăn cá, con trai của Già làng bỗng mắt lồi, thân hình khổng lồ, bụng phình, mũi dài, tai to, tay chân biến thành tứ trụ. Một hiện tượng kỳ lạ chưa từng có. Chàng vẫn ăn cơm, uống nước, ăn rau, vẫn hiểu được tiếng người nhưng không nói được. Từ đó lũ làng gọi chàng là chàng voi và ứng xử với chàng như một thành viên trong cộng đồng vậy”.  (Trích truyện kể dân gian của người Ê Đê và Mnông ở Đắk Lắk)

Không biết từ thưở nào, huyền thoại người hóa voi được lưu truyền trong dân gian ở vùng đất Nam Kar, tỉnh Đắk Lắk lại trở thành mạch nguồn cho câu chuyện yêu thương đầy nhân tình với những con vật khổng lồ trong thiên nhiên. Voi – một loài động vật hoang dã trong rừng xanh đã trở thành người bạn thân thân thiết với người Tây Nguyên từ ngàn đời.

Khi sương mù bàng bạc còn phủ dày đặc trên những nóc nhà dài, hơi lửa ấm áp của gian khách được nhóm lên, ta có thể nghe được tiếng trở mình đập muỗi hay hơi thở đều đều của những chú voi hiền lành, khổng lồ như không ngủ trước ngôi làng đầy quyền lực ở huyện Buôn Đôn, Ea Sup, Lăk, Đăk Min hay ở huyện Đăk Song ở Tây Nguyên. Voi không những là biểu tượng cho sức mạnh, cho quyền lực và đẳng cấp của những gia đình giàu có, mà còn trở thành người bạn thân thiết gắn bó với con người.

Trước đây, vào mùa nông nhàn, những người đàn ông tài ba thường đi rừng để tìm các sản vật từ rừng phục vụ cho nhu cầu hàng ngày. Khi phát hiện voi con lạc trong rừng, họ đưa về buôn làng để thuần dưỡng.  Nghi lễ đặt tên được thực hiện sau đó với tên gọi tương ứng với giới tính của voi như: Y Khăm Sen, Thông Khăm (voi đực), Y Hpúc (voi cái)… Sau nghi lễ đặt tên, voi trở thành một thành viên mới trong gia đình, được công nhận, tôn trọng và bảo vệ. Thỉnh thoảng các nài voi (gru) thả chúng về với rừng sâu một tháng hoặc hơn thế. Chỉ cần nghe tiếng tù và của chủ, tự khắc voi lại quay về với người. Hậu duệ của dòng họ voi sẽ được nhân lên sau nghi lễ cưới vợ, cưới chồng cho chúng. Người ta cũng có thể bỏ ra hàng chục con trâu hoặc những bộ chiêng cổ để đổi một chú voi từ các nước bạn trong khu vực để về chăm sóc.

Dấu chân những người bạn khổng lồ ấy được in đậm qua những lần tham gia lễ hội, cùng các gru đi hái thảo dược hay đi xác định vùng đất mới để làm nương rẫy. Khi cần thiết, voi hỗ trợ kéo gỗ làm cột nhà, làm trống độc mộc, ghế kpang. Hoặc voi rong ruổi cùng các gru đến nước bạn Lào, Campuchia khi họ trao đổi chiêng, ché rượu cổ, trang sức, trang phục.

Vòng đời của voi cũng tương tự như con người vậy. Bao tháng năm rong ruổi cũng cần ngơi nghỉ và kết nối. Tình yêu của người Tây Nguyên đối với voi không chỉ thể hiện qua việc chăm sóc, đặt tên hay tính mùa tuổi mà còn qua lễ cúng sức khỏe, lễ cưới vợ, cưới chồng và kể cả khi voi chết. Sau nghi lễ chia lìa kết thúc, chiếc đuôi voi được xem là di vật cuối cùng được gia đình mang về cất giữ nhằm tưởng nhớ về nó. Việc ăn thịt voi không bao giờ được phép trong xã hội Tây Nguyên. Sẽ là trọng tội nếu ai đó xâm phạm bất cứ bộ phận nào của voi cho dù nó còn sống hay đã lìa trần.

Tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” đã tạo nên những ứng xử khá thú vị và nhân văn giữa người với voi ở Tây Nguyên. Những câu chuyện về sự kết nối giữa người và voi sẽ là chiếc cầu nối để chúng ta tiếp tục đối thoại, bảo vệ và nuôi dưỡng các cá thể voi còn lại trên mảnh đất huyền thoại này, cho hôm nay và mai sau.