Về làng Chăm Bàu Trúc xem nghệ thuật làm gốm cổ xưa

13/08/2026
share

Thu Hà

Những tháp Chăm, tòa thành cổ cùng nhiều di sản văn hóa như nghề làm gốm ở Bàu Trúc nhắc nhớ về nền văn hóa Champa rực rỡ một thời tại vùng ven biển miền Trung.

Tọa lạc ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, làng Chăm Bàu Trúc nổi tiếng khắp trong và ngoài nước về nghề gốm thủ công đã tồn tại qua nhiều thế kỷ.

Theo nhiều tư liệu địa phương, làng Bàu Trúc đã xuất hiện ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ thế kỷ thứ 12. Dưới thời chúa Nguyễn, làng Chăm được đặt tên là Vĩnh Thuận. Sau đó, một trận lụt đã khiến cả làng phải tản cư đến vùng đất khác. Nơi đây có những cánh đồng được bồi tụ phù sa bởi sông Lu và sông Quao, xung quanh mọc nhiều tre trúc, nên người làng đổi tên thành Bàu Trúc, trong tiếng Khmer là Palei Hamu Craok.

Vẻ đẹp đơn giản và tự nhiên của gốm Chăm. Ảnh: Tạp chí Công Thương

Vị trí địa lý thuận lợi đã dành tặng cho làng Bàu Trúc nguồn lợi dồi dào từ đất sét. Tương truyền rằng, tận dụng yếu tố thiên thời địa lợi, ông Poklong Chanh (Pô K’long Chank) đã đem đất sét về nhà, mày mò cách nhào nặn gốm. Thử nghiệm thành công, ông tập hợp tất cả phụ nữ trong làng và truyền dạy cho nghề làm gốm, từ các vật dụng cơ bản trong sinh hoạt cho đến đồ thờ cúng trong các dịp lễ hội. Chính vì vậy, ông Poklong Chanh được dân làng suy tôn là ông tổ nghề gốm. Dân làng lập đền thờ, tổ chức lễ hội hằng năm để dâng cúng lễ vật, tri ân công đức của ông.

Cho đến nay, nghệ thuật gốm Chăm Bàu Trúc dẫu trải qua thời kỳ dài biến động nhưng vẫn giữ nguyên vẹn phương pháp cổ xưa. Đó là quy trình chế tác thủ công hoàn toàn, từ việc khai thác nguyên liệu đến các bước như nhào đất, tạo hình cho đến nung gốm ngoài trời.

Công phu nghề tạo hình gốm thủ công

Nguồn đất để làm gốm Bàu Trúc là đất sét mềm mịn từ các cánh đồng gần sông Quao. Dân làng thường chỉ thu hoạch một lần trong năm để đảm bảo đất có thời gian nghỉ ngơi và phục hồi. Thời điểm thu hoạch đất sẽ rơi vào tháng khô nắng để đất khô ráo. Tuy mất đi một lượng đất, nhưng kỳ lạ thay các cánh đồng ở sông Quao vẫn có thể gieo trồng lúa và cho năng suất tốt.

Đất sét mang về làng sẽ phải phơi khô, nghiền nhỏ, ngâm nước một đêm cho đất mềm, sau đó mới trộn với cát sông địa phương để tăng độ kết dính. Kỹ thuật trộn đất khá đặc biệt, bởi dụng cụ để trộn đất không phải cuốc, xẻng, mà là đôi chân trần và đôi tay của người thợ. Theo lời kể của các nghệ nhân, từ nhỏ, họ đã theo bà và mẹ học làm gốm, mà bài học đầu tiên là đạp đất. Vì để nặn được gốm, trước hết phải tự mình nhào được đất. Những bàn chân vụng về đạp tới đạp lui đám đất dưới sự chỉ dẫn của người lớn “Con đạp cho đến khi nào thấy ưng, cảm nhận lớp đất mịn dưới bàn chân là được”. Kỹ càng hơn, người thợ tiếp tục nhồi đất bằng tay, loại bỏ các viên sỏi đá lẫn bên trong để tránh gốm bị nứt khi nung.

Hoa văn trên gốm Bàu Trúc độc đáo bởi chính sự đơn giản của vật dụng tạo ra chúng. Ảnh: Thanh Hà

Tiếp đến là công đoạn “thổi hình cho đất”. Đất sét Bàu Trúc có đặc tính mềm dẻo, nếu đặt trên bàn xoay thì chúng sẽ bị chảy. Thế thì không tạo hình được. Nghệ nhân sẽ đặt khối đất lên hòn kê – một khối trụ hoặc cái lu, cao qua đầu gối của người thợ một chút. Vậy người thợ làm thế nào để tạo ra những đường cong tròn của lu, nồi, chậu, vại? Họ sẽ xoay tròn xung quanh hòn kê, một tay ép một tay xoa đất để tạo hình vật dụng mà họ muốn. Sau khi hoàn thiện phần tạo hình, người thợ sẽ dùng miếng vải thấm nước, chà lên gốm để tạo độ láng mịn.

Tiếp theo, gốm được chuyển sang công đoạn trang trí. Hoa văn trên gốm Bàu Trúc độc đáo bởi chính sự đơn giản của vật dụng tạo ra chúng. Đường răng cưa, hình sóng nước được chạm bởi một que gỗ hay que tre. Đường vân tự nhiên của những chiếc vỏ sò, nắp kem đánh răng hay nắp bình rửa chén. Các họa tiết hoa lá ngẫu hứng từ bông hoa, nhành cây mà người thợ sưu tập.

Cuối cùng, gốm sẽ được mang đi nung theo phương pháp nung lộ thiên. Cát, củi, rơm rạ và trấu là nhiên liệu cho lò nung ngoài trời. Người ta trải lớp cát sông trên nền đất bằng phẳng, chất lên cát những thanh củi to, rồi đến các sản phẩm gốm, thêm lớp rơm phủ trên mặt gốm và trên cùng là vỏ trấu. Châm một mồi lửa vào đống rơm, cái nóng hừng hực của lửa cộng thêm nắng trời hừng hực khắp không gian, mùi rơm cháy quyện với mùi đất sét nung nồng đượm. Quá trình nung gốm lộ thiên diễn ra trong khoảng 4 đến 6 tiếng cho đến khi gốm “chín”, màu sắc của gốm lúc bấy giờ tương đồng với màu cam đất.

Gốm Bàu Trúc không tráng men, mà có màu tự nhiên. Ảnh: Elle Decoration

Gốm Chăm Bàu Trúc không sở hữu kỹ thuật tráng men hay màu sắc bắt mắt như nhiều sản phẩm gốm khắp Việt Nam. Thay vào đó, là bảng màu tự nhiên như vàng đỏ, đỏ hồng, đen nâu. Người thợ có thể tạo thêm các vệt màu loang trên gốm như xám tro, cam đỏ từ nước ngâm vỏ điều hoặc tro từ cây củi.

Trải qua ngần ấy công đoạn, một sản phẩm gốm ra đời, kết tinh từ tài nghệ khéo léo, tình yêu và quyết tâm giữ nghề của các nghệ nhân làng gốm Bàu Trúc. Chính tinh thần này đã đưa danh tiếng gốm làng Bàu Trúc vươn xa và được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể.

Nếu có dịp đến vùng biển Nam Trung Bộ, bạn hãy thử ghé thăm làng Bàu Trúc. Trong từng sản phẩm gốm, dù đơn giản như đồ dùng trong gia đình hay phức tạp như gốm phù điêu trang trí, đều chứa đựng sự ấm áp của đất và tâm tình được nhiều thế hệ người Chăm gìn giữ và gửi gắm đến cộng đồng.

ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

Đăng ký nhận tin

Đăng ký để nhận thông báo và chương trình khuyến mãi mới nhất. Mọi thông tin liên hệ của bạn đều được bảo mật tuyệt đối.