Bài: Lưu Quang Phổ
Ảnh: Phan Huy, Nguyễn Trọng Cung
Tỉnh giấc khi chiếc xe khách tiến vào Lai Châu, tôi ngỡ ngàng nhìn qua cửa kính. Sau những khúc cua của núi rừng, một đô thị khang trang bất ngờ hiện ra trong thung lũng, bốn bề là núi xanh và mây trắng bảng lảng.

Ở độ cao khoảng 1.000 mét, Lai Châu mang một vẻ đẹp khoáng đạt của một đô thị miền núi. Đường phố rộng rãi, quy hoạch ngay ngắn bên hồ nước, công viên và những khoảng xanh, ít tiếng còi xe, thay vào đó là tiếng chim vọng ra từ những vạt cây. Sau sáp nhập, đô thị này trở thành 2 phường Tân Phong và Đoàn Kết.
Nếu đô thị đem đến cảm giác thư thái thì những dãy núi bao quanh lại mở ra một thế giới khác – hùng vĩ, hoang sơ và đầy thử thách. Lai Châu sở hữu 7 trong 10 đỉnh núi cao nhất Việt Nam: Pu Si Lung, Pu Ta Leng, Bạch Mộc Lương Tử, Phàn Liên San, Tả Liên Sơn, Pờ Ma Lung và Chung Nhía Vũ.
Mỗi đỉnh lại mang một vẻ đẹp riêng: Bạch Mộc Lương Tử nổi tiếng với biển mây, Tả Liên Sơn với những cánh rừng cổ tích, còn Pu Ta Leng quyến rũ bởi sắc hoa đỗ quyên mỗi độ xuân về.

Lai Châu là vùng đất của 20 dân tộc cùng chung sống, tạo nên một kho tàng văn hóa đa dạng. Những ngôi nhà sàn, nhà trình tường, những bộ trang phục tinh tế của người Thái, Lự, rực rỡ của người Hà Nhì, Mông; những phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, những làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống, trò chơi dân gian được truyền qua nhiều thế hệ khiến di sản ở Lai Châu không nằm yên trong bảo tàng mà hiện diện ngay trong đời sống.
Ngoài 2 Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO công nhận là Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái và Nghệ thuật Xòe của người Thái, Lai Châu còn có 11 Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, đó là múa xòe, trò chơi kéo co, Lễ hội Nàng Han, Lễ hội Then Kin Pang, nghệ thuật Ẩm thực của người Thái; lễ cấp sắc, tri thức dân gian về chữa bệnh của người Dao; lễ hội Gầu Tào của người Mông; Nghề dệt của người Lự; Diễn xướng Xa Nhà Ca, Nghệ thuật Xoè của người Hà Nhì, tạo nên bản sắc văn hóa rất riêng của Lai Châu và là những mạch nguồn văn hóa vẫn đang được cộng đồng gìn giữ và trao truyền.
Trong chuyến đi lần này, chúng tôi ngủ 1 đêm ở Sin Suối Hồ mát lạnh giữa mùa hè, đến thượng nguồn sông Đà thăm bia đá của đức vua Lê Lợi hay còn gọi là “Bia cổ Hoài Lai” và lên Thu Lũm cầu may ở tảng đá trắng rất thiêng trong tín ngưỡng của người Hà Nhì.

Tiếp theo hành trình xuôi về Tân Uyên, Than Uyên, chúng tôi tắm suối nước nóng và ở lại homestay giữa rừng thông, thăm nghệ nhân hát then – đàn tính Lò Văn Sơi, xem những học trò của ông trình diễn. Tiếng đàn ngân lên giữa bản Cang Mường, tôi cảm nhận rõ hơn sức sống của một di sản khi nó vẫn được hát, được chơi và được truyền lại cho thế hệ sau.
Ẩm thực Lai Châu cũng là một phần ký ức khó quên. Cá nướng béo ngậy, thịt sấy thơm phức, xôi tím dẻo quánh, măng luộc ngọt lành… mang theo hương vị của núi rừng. Tôi đặc biệt ấn tượng với chợ đêm ẩm thực San Thàng, nơi có rất nhiều món ăn của đồng bào các dân tộc, trong đó có phở của người Giáy ăn cùng rau ngót sống – một hương vị lạ mà thú vị.
Sức hấp dẫn của Lai Châu có lẽ chính là ở nơi thiên nhiên không đứng ngoài đời sống, mà hòa cùng văn hóa, để những ngọn núi, biển mây, bản làng và điệu hát cùng tạo nên một miền di sản sống động giữa đại ngàn.
Từ Sa Pa về Mù Cang Chải, hoặc theo chiều ngược lại, hãy rẽ vào Lai Châu ở ngã ba Bình Lư. Giữa núi cao, bản làng và những biển mây bất tận, bạn sẽ hiểu vì sao nơi đây có thể gọi là nơi mây ngàn chạm vào di sản – một vùng đất rời đi rồi vẫn dễ khiến người ta nhớ mãi.











