Bài: Vũ Thị Hằng
Ảnh: Kim Dung
Bộ tượng các vị Tổ ở chùa Tây Phương là đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình điêu khắc Phật giáo Việt Nam.

Trên núi Câu Lậu, xã Tây Phương, Hà Nội có ngôi chùa Sùng Phúc thường gọi là chùa Tây Phương. Hiện chưa rõ chùa được dựng từ thời điểm nào nhưng nhiều ý kiến của giới nghiên cứu cho rằng từ khoảng 1632 – 1635. Sau đó, vào năm 1639 chùa đã có những đợt tu sửa lớn với sự tham gia hưng công của Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1623 – 1657). Sau đó, chúa Trịnh Giang (1729 – 1740) đã cho sửa chùa, làm tượng với quy mô lớn vào niên hiệu Vĩnh Hựu 1735 – 1740. Cuối thế kỷ 18, đại thần nhà Tây Sơn là Phan Huy Ích lại đứng ra hưng công đúc chuông và tu sửa chùa. Ngày nay, chùa Tây Phương nổi danh khắp Việt Nam nhờ kiến trúc độc đáo và nghệ thuật điêu khắc tượng Phật đặc sắc. Bộ tượng Phật giáo có niên đại thế kỷ 18 của chùa Tây Phương là kiệt tác nghệ thuật đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2014. Trong số này, bộ tượng 18 vị Tổ chùa Tây Phương được đánh giá là những chân dung sinh động bậc nhất trong nghệ thuật tạo hình điêu khắc Phật giáo Việt Nam. Nghệ nhân xưa đặc biệt thành công khi tạo ra mỗi một nhân vật là một diện mạo điển hình, có cá tính, chân thực và sống động.

Bộ tượng này lâu nay thường được gọi là Thập bát La Hán. Tuy nhiên, qua đối chiếu hình tượng các nhân vật với thư tịch Phật giáo Trung Quốc và Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là tượng các vị Tổ kế đăng, tức những bậc tổ sư dòng truyền thừa Phật giáo từ Ấn Độ. Việc định danh lại không chỉ giúp nhận diện đúng hệ tượng, mà còn cho thấy chiều sâu tư tưởng cũng như tri thức Phật học ẩn phía sau nghệ thuật tạo hình của người xưa.
Giá trị lớn nhất của bộ tượng trước hết nằm ở khả năng kết hợp giữa tính tôn giáo và tính chân dung. Đây vẫn là tượng thờ, nhưng không khô cứng trong mô thức ước lệ. Mỗi pho tượng hiện lên như một con người riêng biệt, có thần thái với thế giới nội tâm khác nhau. Vị trầm ngâm, vị khoan hòa, vị hỉ hả, vị khắc khổ; có pho như đang nhập định, có pho như đang suy tư, lại có pho gợi cảm giác thư thái, gần gũi. Cùng chung một hệ đề tài nhưng không pho nào lặp lại pho nào. Chính điều đó khiến người xem không chỉ đứng trước một bộ tượng Phật giáo, mà còn như đang đối diện với một thế giới biểu cảm đa sắc thái.

Nghệ nhân xưa đặc biệt tài tình trong việc khắc tả biểu cảm. Chỉ bằng nét mặt, dáng ngồi, đôi bàn tay hay độ nghiêng rất nhẹ của thân người, họ đã truyền vào từng pho tượng một sức sống hiếm thấy. Có những gương mặt gầy guộc, ưu tư, gợi liên tưởng về nội tâm sâu thẳm; có những gương mặt đầy đặn, tươi tắn, ánh lên vẻ hồn hậu và bao dung; cũng có những pho tượng toát ra vẻ thần bí, cô tịch của người đã bước sâu vào cõi thiền. Nhìn tổng thể, bộ tượng tạo ra cả một phổ cảm xúc rộng lớn, từ suy niệm, u tịch đến hóm hỉnh, nhẹ nhõm.
Một thành công khác của hệ tượng là nghệ thuật xử lý hình khối. Các pho tượng có kích thước lớn, tỷ lệ cân đối, khối dáng chắc khỏe nhưng không nặng nề. Nghệ nhân không chỉ tạc tượng như những khối gỗ đứng yên, mà tạo nên cảm giác chuyển động trong tĩnh lặng. Lớp sơn phủ cũng góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của bộ tượng. Màu sơn then đen kết hợp cùng sắc son đỏ làm nổi bật cấu trúc khối, đồng thời tạo nên vẻ trầm mặc, cổ kính cho toàn bộ hệ thống tượng.

Nếu nhìn sâu hơn, giá trị của bộ tượng chùa Tây Phương không chỉ nằm ở kỹ thuật điêu khắc điêu luyện, mà còn ở khả năng nhân hóa thế giới tôn giáo. Những bậc tổ sư trong kinh sách, qua bàn tay nghệ nhân Việt Nam, đã bước xuống gần hơn với đời sống. Họ không còn chỉ là biểu tượng của giáo lý mà trở thành những hiện diện có cá tính, có cảm xúc.
Bộ tượng vì vậy không đơn thuần là di sản của riêng chùa Tây Phương hay của Phật giáo, mà còn là một đỉnh cao của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 18. Ở đó, tinh thần tôn giáo, cảm quan hiện thực và tài năng tạo hình của nghệ nhân dân gian đã gặp nhau để tạo nên một quần thể điêu khắc hiếm có. Từ những mô típ và điển tích được truyền lại qua thư tịch, người xưa đã không sao chép máy móc mà sáng tạo lại bằng nhãn quan và xúc cảm riêng. Nhờ đó, các pho tượng vừa mang ý nghĩa biểu tượng, vừa có sức truyền cảm mãnh liệt về mặt thẩm mỹ. Không nhiều quần thể tượng thờ vừa giàu tư tưởng, vừa đẹp về tạo hình, vừa để lại ấn tượng sâu sắc trong cảm xúc người xem. Đó là lý do bộ tượng này từ lâu vẫn được xem như một chuẩn mực của nghệ thuật tượng gỗ cổ truyền Việt Nam.
Từ những mô típ có sẵn trong kinh sách và tranh vẽ cổ, người thợ xưa đã thổi vào 18 vị tổ ở chùa Tây Phương một sinh khí hiếm có. Mỗi pho tượng như mang một đời sống riêng, hiện lên với dáng vẻ, thần thái và nhịp cảm xúc không trùng lặp. Bằng nghệ thuật tạo hình khoáng đạt, bộ tượng không chỉ là đỉnh cao của điêu khắc Phật giáo thế kỷ 18 mà còn trở thành hình mẫu để nhiều ngôi chùa về sau học hỏi và tiếp nối.










