Hữu Vy

Đàn Nam Giao và lễ tế Nam Giao – một trong những đại lễ quy mô nhất trong số các lễ hội cung đình triều Nguyễn

Phương đàn

Đàn Nam Giao là công trình kiến trúc cung đình thiết yếu của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đây là nơi triều đình tổ chức lễ tế Nam Giao (còn gọi là lễ tế Giao) để tế cáo Trời – Đất cầu quốc thái dân an, đất nước thái bình thịnh trị, vương triều trường tồn, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. eo quan niệm xưa, vua là “Tiên tử”, tuân theo mệnh Trời mà cai trị dân chúng nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế Trời – Đất nhằm khẳng định vương quyền và tính chính thống của vương triều. Cũng với mục đích như vậy, sau khi lên ngôi vua, sáng lập vương triều Nguyễn, vua Gia Long đã cho xây dựng đàn Nam Giao tại xã Dương Xuân về phía nam kinh thành Huế (nay thuộc phường Trường An, thành phố Huế).

Đàn Nam Giao triều Nguyễn nằm trong khuôn viên hình chữ nhật có diện tích lên tới hơn 100.000m2, được bao quanh bởi một rừng thông xanh ngắt, loài cây tượng trưng cho đấng quân tử. Cấu trúc và màu sắc của đàn không những thể hình tròn, lắp lan can quét vôi xanh, tượng trưng cho Trời, gọi là Viên đàn. Nền Viên đàn chôn sẵn 28 bệ đá khoét lỗ để dựng Thiên Khung (nhà tạm hình nón lợp vải xanh vào dịp tế lễ, Thiên Khung có nghĩa là vòm trời cao). Đây là nơi hợp tế Trời, Đất và phối tế linh vị Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng – người dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn cùng các tiên đế đương triều là Thế tổ Cao Hoàng đế Gia Long, Thánh tổ Nhân Hoàng đế Minh Mệnh, Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị. Tầng giữa hình vuông, lắp lan can quét màu vàng, tượng trưng cho Đất, gọi là Phương đàn. Nền đàn về phía Nam đặt sẵn 4 bệ đá khoét lỗ để dựng Hoàng ốc (nhà tạm hình vuông lợp vải vàng khi tế lễ). Phương đàn là nơi đặt án thờ và tế Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì Sao và các vị thần Gió, Mây, Mưa, Sấm, Núi, Biển, Đầm, Sông, Cồn, Gò, Bờ, Bãi, Năm, Tháng và bách thần trong cả nước. Tầng dưới cùng cũng hình vuông, quét vôi đỏ, tượng trưng cho người. Vào dịp tế, đây là nơi dành cho các đội văn sinh, võ sinh múa Bát Dật (điệu múa gồm 64 người, sắp thành 8 hàng, mỗi hàng 8 người vừa múa vừa hát). Cũng trên mặt bằng tầng này, về phía đông nam đặt sở Phần Sài (nơi chất củi đốt đồ cúng tế cho cháy hết bốc khói lên cao để tế Trời); về phía tây bắc đặt sở Ế Khảm (nơi đào lỗ chôn đồ cúng tế xuống đất để tế Đất).

Đám rước đi qua kì đài

Bên ngoài khuôn viên đàn, nhà Nguyễn còn cho xây dựng các công trình phục vụ tế Giao. Về phía tây nam là Trai Cung (nơi vua giữ mình trong sạch trước khi tế Giao). Ở phía đông bắc là ần Trù (nhà bếp làm cỗ tế), sở Tể Sinh (nơi giết mổ các con vật cúng tế) và ần Khố (nhà kho cất giữ đồ tế). Ngoài ra còn có Quan Cư (nhà dành cho các quan tạm trú), Khoản Tiếp (nhà đón khách).

Các án thờ ở Phương đàn

Cùng với việc dựng đàn tế, nghi thức tế Giao cũng được vua Gia Long và vua Minh Mệnh chuẩn định và cho ghi chép lại để đời sau y theo. Các điều khoản về đồ thờ cúng, lễ phẩm, lễ nhạc, mũ áo mặc khi tế Giao là “bích” (phiến ngọc tròn màu xanh có lỗ ở giữa, tượng trưng cho Trời) dùng để tế Trời và “tông” (ống ngọc màu vàng trong tròn ngoài vuông, tượng trưng cho Đất) dùng để tế Đất. Hàng năm, đến ngày tế thì bày ra, tế xong lại cất đi.

Khởi công vào đầu năm 1806, ắt đến cuối năm này, việc xây dựng đàn Nam Giao đã hoàn tất bởi vào ngày 27 tháng 3 năm 1807, lễ tế Giao đầu tiên tại đây đã được vua Gia Long cử hành. Kể từ đó cho đến năm 1885, đều đặn hàng năm nhà Nguyễn đều tổ chức lễ tế Giao vào trung tuần tháng hai hoặc tháng ba âm lịch. Từ đời vua ành ái (1890 – 1907), do điều kiện kinh tế eo hẹp nên đổi lại ba năm mới tổ chức một lần. Trước kỳ tế, Khâm iên Giám dự chọn ba ngày tốt dâng trình để bói chọn lấy ngày tốt nhất. Lễ phẩm, lễ nhạc… cũng được sửa sang, chuẩn bị vô cùng công phu, kỹ lưỡng. Con sinh (các con vật tế gồm trâu non, nghé đực, dê, lợn) được chăn nuôi riêng trong ba tháng bằng thức ăn tinh sạch, có lọng đỏ che mưa nắng và được tắm rửa hàng ngày. Ba ngày trước hôm đại lễ, vua ngự giá từ Đại Nội đến Trai Cung để trai giới. Đến giờ tế (thường diễn ra lúc nửa đêm về sáng), vua mặc long cổn, đội mũ bình thiên ngự giá từ Trai Cung ra Giao Đàn tế lễ. Các nghi lễ: đốt củi thui trâu, đón ần, dâng ngọc lụa, dâng con sinh, dâng rượu, ban phúc, cất dọn đồ cúng, tiễn ần, đốt văn tế lần lượt diễn ra trang nghiêm, kính cẩn. Tương ứng với mỗi nghi lễ, phường nhạc sẽ tấu hát một khúc nhạc riêng. Chứng kiến lễ tế Giao năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh (1892 – 1945)  đã  cảm  động thốt lên: “Đương đêm thanh vắng, hơn một trăm con người đồng thanh hát lên, nghe rất cảm động, tưởng thấu đến tận trời cao đất thẳm, mà xa đưa tới đấng iên Hoàng Địa Kỳ cái tấm lòng thành của cả một dân một nước”. Từ khi khai tế đến khi tế xong mất khoảng 2 tiếng. Có thể nói, lễ tế Nam Giao là đại lễ quy mô nhất, tốn nhiều công của nhất trong số các lễ hội cung đình triều Nguyễn.

Ngày nay, đàn Nam Giao là một di tích lịch sử quan trọng trong Quần thể di tích cố đô Huế, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1993. Do những ý nghĩa lịch sử văn hóa quan trọng cùng các giá trị nhân văn nổi bật mà lễ hội cung đình này đã được nghiên cứu và phục dựng từng phần kể từ Festival Huế 2004. Đây cũng là dịp để Huế quảng bá sâu rộng hơn nữa những tinh hoa văn hóa truyền thống của vùng đất Cố đô.