Bài: Ngô Quang Minh

Ảnh: Nguyễn Hải

Có lẽ không cây cầu nào trên đất Việt có số phận lịch sử lạ kỳ, đáng trân trọng như cây cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải ở tỉnh Quảng Trị. Cây cầu này gợi lên không chỉ là hoài niệm của chia ly – đoàn tụ mà còn là tình yêu, là biểu trưng của khát vọng hòa bình và tình dân tộc.

Hiền Lương - cây cầu của khát vọng thống nhất đôi bờ

Từ Bắc vào Nam nếu chạy dọc theo Quốc lộ 1 rời địa phận Vĩnh Linh (Quảng Trị) vượt sông Bến Hải sang địa phận Gio Linh (Quảng Trị), để ý nhìn sang bên tay trái, ta sẽ thấy một cây cầu thân sắt mặt lát gỗ lim có màu xanh và vàng, 7 nhịp rất độc đáo bắc qua dòng sông xanh. Con sông trước kia có tên “Bến Hói” nghĩa là dòng sông nhỏ, sau đọc lệch ra thành “Bến Hải”. Sông này không rộng mà dài, vốn bắt nguồn từ chân dãy Trường Sơn chảy hơn 100km hướng tây – đông ra biển Cửa Tùng. Làng xưa ven sông vốn tên Minh Lương, vì kỵ húy tên vua Minh Mạng mà thời nhà Nguyễn đổi thành Hiền Lương. Năm 1928, cầu Hiền Lương được dựng lên bằng gỗ đóng cọc sắt ở đoạn sông chưa đầy 100m. Năm 1931, cầu được sửa chữa lại rộng hơn nhưng xe cộ qua sông vẫn phải đi bằng phà. Phải đến năm 1950 cầu Hiền Lương mới được nâng cấp bằng bê tông cốt thép nhưng sau đó bị đánh sập bởi chiến tranh vào năm 1952. Tuy nhiên cầu cũng được làm mới lại ngay trong năm. Năm 1954 mới thực sự là dấu mốc đáng nhớ gắn liền với cây cầu này. Năm đó, Việt Nam tạm thời chia làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 và con sông tự nhiên làm đường ranh giới khu phi quân sự. Cuộc phân ly tạm thời đợi ngày tổng tuyển cử thống nhất hai miền tưởng rằng chỉ kéo dài 2 năm nhưng thực tế đã kéo dài tới 2 thập kỷ. Hòa bình lập lại, chiếc cầu xưa được phục dựng theo nguyên bản và đánh số thứ tự từng tấm ván cầu, đứng đó kiên tâm trong nắng gió miền Trung, như một chứng nhân muôn tuổi chưa già.

Tượng thiếu phụ cùng con đứng trong nỗi nhớ

Trong giai đoạn từ sau năm 1954 đến 1975, lịch sử ghi lại những cuộc đấu trí không mùi thuốc súng xung quanh cây cầu lịch sử này. Điển hình là cuộc “chọi cờ” quyết liệt gay gắt suốt 14 năm ròng, khi mỗi bên liên tục sử dụng các lá đại kỳ tăng dần về kích thước và nâng dần chiều cao cột treo cờ, bất chấp mỗi lần bị đạn pháo xé rách đánh sập thì sáng hôm sau cột cờ mới lại được dựng lên. Hình ảnh này sau được mô phỏng lại thành Người vá cờ Hiền Lương trong nhà trưng bày “Vĩ tuyến 17 và khát vọng thống nhất”. Song song còn diễn ra cuộc “chọi loa” trứ danh hai bên bờ sông. Khi đó bờ nam lắp giàn loa tối tân công suất lớn với mục đích tuyên truyền tới mức xa như Quảng Bình cũng nghe rõ thì bờ bắc tăng kích thước loa kèm theo đường điện cao thế trợ lực, ngày thuận gió tiếng loa vang xa hơn chục km. Cuộc chiến tuyên truyền âm thanh ngày đó, thay vì tiếng súng gươm, đã được lịch sử nhớ mãi; đặc biệt phiên bản phục chế loa phóng thanh này còn lưu lại dưới dạng hiện vật trưng bày cho bảo tàng. Ngày nay, đến thăm cụm di tích này, người ta còn thấy nổi bật lên ở giới tuyến phía bắc là Cột cờ sao vàng 5 cánh cao 28m hiên ngang vững chãi trên đế trụ tròn và trang trí hình ảnh non sông một dải dưới chân kỳ đài. Còn trên giới tuyến phía nam không xa dựng tượng đài “Khát vọng thống nhất non sông” có dáng hình thiếu phụ cùng con đang đứng ở bờ nam nhìn về phía bắc trong tâm thế vọng chinh phu giữa những tháng năm còn chia cắt.

Có hơn 900 tấm gỗ lim được ghép trên mặt cầu

Theo dòng thời gian, Hiền Lương – Bến Hải đi vào điện ảnh và trở thành một bộ phim huyền thoại. Phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” của đạo diễn Hải Ninh ra đời năm 1972 xoay quanh cuộc đời của một nữ bí thư chi bộ ở bờ nam sang bờ bắc công tác mà hai tác giả Hải Ninh và Hoàng Tích Chỉ được gặp trong lần vào chiến trường. Khi đó họ còn chưa rõ tên do “khi nào đất nước thống nhất cô mới cho biết tên”. Để có tác phẩm ra đời, họ đã miệt mài lao động trong 5 năm trời, chắt lọc chất liệu quý giá trong mỗi lần vào, ra giới tuyến bất chấp bão đạn mưa bom. O du kích Hoàng Thị Thảo quê Gio Linh – hay o Dịu của “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” – sau này hy sinh trước khi 2 miền thống nhất với hình ảnh của chị qua diễn xuất nhập vai thần kỳ của NSND Trà Giang đã thành tượng đài sáng mãi của điện ảnh cách mạng Việt Nam. Cùng 1 vĩ tuyến rạch đôi bởi cây cầu, cùng 1 làng quê chia cắt bởi 2 chiến tuyến, cùng 1 gia đình phân ly bởi 2 ý thức hệ; bộ phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” tạo nên tiếng vang lớn tại Liên hoan phim quốc tế Moscow (Nga) năm 1973, làm cho người ta kinh ngạc về công phu diễn xuất, đại cảnh hoàng tráng và cốt truyện lay động nhân tâm. Trước thành công to lớn đó, NSND Hải Ninh chỉ khiêm tốn nhận rằng: “Hiện thực đất nước chúng tôi sinh ra những con người và những sự kiện kỳ diệu, còn đạo diễn như tôi chỉ phản ánh được phần nào hiện thực đó!”.

Thân cầu được phục chế nguyên bản năm 1954

Sự đời vẫn vũ như mây gió, đổi thời gian và đổi cả không gian. Vùng đất khốc liệt bi tráng xưa nay đã thay da đổi thịt, làng o Thảo giờ đã là khu công nghiệp Quán Ngang và chuyến đò vỹ tuyến chỉ còn trong tâm tưởng. Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải đã trở thành điểm tham quan du lịch nhiều ý nghĩa, và được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2013. Chạy xe vượt sông Bến Hải, rời cầu Hiền Lương xuôi Bắc vào Nam nghe gió biển Cửa Việt thổi trên đất Gio Linh lồng lộng, ngắm hai bên sông thấy lòng dịu lại. Lịch sử quê hương chưa bao giờ bị thời gian vùi lấp, có lẽ chính bởi những dòng sông, cây cầu đơn sơ mộc mạc nhưng đậm sử thi như thế. Ta thấy thêm trân quý những cuộc đời đáng sống ta đã gặp bởi “Tổ quốc không phải là một tấm bản đồ trừu tượng” và Hiền Lương có nhiều hơn những hoài niệm trong câu hò bên bến năm xưa.