Bài: PGS.TS Trịnh Sinh
Ảnh: Đan Toàn, Phạm Đức Anh

Câu tục ngữ “Đẹp vàng son, ngon mật mỡ” như đúc kết được vẻ đẹp thẩm mỹ của vàng son mà người Việt từ tầng lớp quý tộc đến bình dân đều ưa chuộng. Vàng ở đây là vàng nguyên chất, được dát mỏng và phủ lên đồ gỗ. Bên cạnh vàng, đồ gỗ còn được quét sơn ta màu son đỏ. Nhờ có sắc vàng và đỏ, không gian linh thiêng của chùa, đình, miếu được tôn thêm lên mà không kém phần lộng lẫy.

Đồ án rồng trên ngai thờ (trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Dường như nét đẹp vàng son đã trở thành cái bản sắc của các công trình đền đài, miếu mạo của người Việt. Giữa một không gian xanh của cỏ cây, ruộng lúa, lũy tre, ao hồ nổi lên màu đỏ của mái đình, màu nâu sòng của tà áo Phật, thì nét đẹp lộng lẫy của vàng son trở thành điểm nhấn của vẻ đẹp hằng số của kiến trúc tôn giáo Việt. Điều này làm nên sự khác biệt với cách chọn gam màu đá lạnh của kiến trúc Angkor hay tượng Chăm Pa.

Vàng son không chỉ làm đẹp cho làng quê bình dị mà còn tô thắm cho các đại danh lam cổ tự như chùa Phật Tích, Đền Đô thờ 8 vị Vua triều Lý hay Văn Miếu – Quốc Tử Giám và đặc biệt là cung đình Huế.

Tượng đức Phật đản sanh (trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.Hồ Chí Minh)

Trang trí trong các cung điện nguy nga ở Đại Nội là các cột gỗ lim được sơn bằng sơn ta màu đỏ. Các hoành phi và các văn tự trang trí trên kiến trúc được dát vàng. Điển hình là Thế Miếu, nơi thờ các vị Vua triều Nguyễn. Các điện thờ, hương án đều làm bằng gỗ quý cùng với hệ thống cột cái, cột con, vì kèo gỗ toát lên một màu đỏ đậm làm nền cho các hoa văn được thếp vàng lấp lánh, tạo nên vẻ trầm mặc mà uy nghi.

Kiến trúc cung đình là vậy mà kiến trúc Văn Miếu cũng chẳng kém. Đây là nơi biểu tượng của tri thức, học hành, khoa cử của nhiều triều đại kế tiếp. Cũng là kiến trúc gỗ truyền thống màu đỏ của sơn ta và màu vàng óng ả của các bức đại tự. Mỗi một dòng chữ thếp vàng như muốn gửi gắm ước vọng của nhiều thế hệ mong được đỗ đạt như các thế hệ đi trước mà tên tuổi được lưu danh bia đá muôn thuở.

Ngai thờ (trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Các vị trí trang trọng trong Văn Miếu dành cho việc thờ cúng các danh nhân có công trong việc xây dựng Quốc Tử Giám và phát triển sự học nước nhà, như  Vua Lý Thánh Tông, Vua Lê Thánh Tông, Chu Văn An… Trên điện thờ là tượng đồng danh nhân được bao quanh bởi màu đỏ của hương án và màu vàng lấp lánh của hoành phi, câu đối và các mảng hoa văn trang trí.

Vàng son còn trang trí khắp các làng quê của người Việt. Phổ biến là trên các tượng trong chùa. Đa số tượng làm bằng gỗ quý. Với cặp mắt nghệ sĩ, những người thợ vô danh đã thổi hồn vào biết bao pho tượng: từ tượng Tam Thế, Thích Ca Mâu Ni, Phật Bà Quan Âm cho đến các pho tượng Kim Cương đứng hai bên Phật Điện. Ngoài tượng Phật, các đồ tế tự cũng được sơn son thếp vàng như: mõ, các ngai thờ, bài vị, hộp đựng sắc phong…

Tượng Khổng Tử (Văn Miếu)

Vẻ đẹp vàng son còn được phổ biến hơn trong các mảng chạm khắc đền, đình nhất là trong thế kỷ XVII thời Lê Trung Hưng, thế kỷ nở rộ của nghệ thuật điêu khắc dân gian, khi các làng đều dựng đình. Mà đã là đình đẹp thì phải có các mảng chạm khắc gỗ trang trí trên các cấu kiện kiến trúc. Đến thăm đình cổ, du khách có thể choáng ngợp với những phù điêu hình rồng, phượng, sư tử và cả những những hoạt cảnh chọi trâu, đánh cờ dân dã…  ở các mảng chạm được sơn son thếp vàng.

Vẻ đẹp vàng son đã đồng hành cùng người Việt hơn 2.000 năm. Bằng chứng là người Việt đã biết đến kỹ nghệ sơn ta trên đồ gỗ từ thời văn hóa Đông Sơn. Các sản phẩm được quét sơn ta trên khay gỗ, chén uống rượu, đĩa… nổi bật màu đỏ đậm hay màu đen cho đến khi các nhà khảo cổ khai quật được trong các mộ thuyền vẫn còn giữ nguyên màu sắc và hình dáng, ví dụ như đồ sơn trong mộ Châu Can (Phú Xuyên, Hà Nội), mộ Việt Khê (Hải Phòng)… Một ngôi mộ ở Đường Dù (Thủy Nguyên, Hải Phòng) còn giữ được cả một bộ đồ nghề của người thợ làm nghề mộc và nghề sơn.

Trường lang Tử Cấm Thành, Huế

Nghề sơn son thếp vàng đã là một nghề truyền thống lâu đời ở ta. Việc “tô tượng” cho chùa đã có một số làng quê và những lớp thợ tài khéo đảm trách, như làng Kiêu Kỵ, làng Sơn Đồng (Hà Nội) nổi tiếng từ xưa, đến nay vẫn còn sản xuất. Bên cạnh đó cũng còn có hàng chục làng nghề sơn son thếp vàng nữa phục vụ cho yêu cầu tô tượng của mỗi vùng đất. Dường như ở đâu có chùa, đình, đền đều có mặt các nghệ nhân tạo tượng, hoành phi, câu đối với nghề cổ truyền là sơn son thếp vàng làm đẹp cho thế giới tâm linh và cho cuộc sống thực tại.

Nghề truyền thống này đòi hỏi kỹ thuật và sự nhẫn nại. Người thợ phải nắm được bí quyết cách pha sơn ta cho đạt được độ bền, màu sắc bóng đẹp và phải sơn khoảng 10-15 lớp chồng lên nhau rồi hong khô tự nhiên. Sau đó, đến công đoạn thếp vàng. Họ dùng lá quỳ được làm từ giấy dó, quét lên loại mực từ nhựa thông, mùn cưa, keo da trâu. Sau đó, họ nấu chảy vàng, đổ khuôn thành miếng mỏng rồi cho vào giữa lá quỳ để đập dẹt thành lá vàng mỏng. Mỗi chỉ vàng làm được 1.000 tờ giấy vàng. Sau đó, lá vàng được dán lên sản phẩm một cách khéo léo để không bị rạn và giữ được độ bóng.

Tượng Phật trên tháp Cửu phẩm Liên hoa tại Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)

Kỹ thuật sơn son thếp vàng này đã được một người Pháp là Henri Oger cho vẽ lại các công đoạn và công bố trên một tác phẩm nổi tiếng đầu thế kỷ XX có tên là “Kỹ thuật của người An Nam” góp phần quảng bá cho một di sản quý báu của dân tộc ta.