Bài: Trương Quý
Ảnh: Amachau
Châu thổ Bắc Bộ hình thành từ sự kiến tạo và bồi đắp phù sa của hệ thống sông ngòi dày đặc. Nền văn minh lúa nước quần tụ quanh những mặt nước giữa các làng xóm, tạo nên lối sống nương theo tính thủy. Trên nền cảnh đó, những thủy đình soi bóng giữa mặt hồ của làng, trước các đền chùa, điểm tô cho tổng thể không gian thêm phần hoàn hảo.

Những viên ngọc giữa chốn danh lam
Thủy đình được sinh ra để đặt giữa những mặt nước án ngữ các công trình kiến trúc mang tính nghi lễ nhằm làm điểm tựa phong thủy, hoàn thiện bố cục với tư duy “gối sơn đạp thủy” theo chiều sâu. Lối bố cục này xếp các lớp công trình tuần tự theo một trục, gọi là đường thần đạo.
Điểm thấp nhất trong trục thần đạo này là một mặt hồ hình bán nguyệt hoặc dạng vuông, lấy thủy đình trên mặt nước làm điểm khởi phát. Qua mặt nước là khoảng sân rộng vừa dùng làm tiền cảnh, làm khán đài, cũng vừa là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội thông thường của làng xã. Tiếp qua khoảng sân là nghi môn hay tam quan vào đền, chùa. Từ đây không gian nâng cao dần lên với hậu cung là nơi ngự của thần, Phật, và kết thúc có thể là một gò đất hay ngọn núi đằng sau.
Thủy đình thường là một tòa kiến trúc dạng hình vuông, để thoáng bốn mặt, trên có 2 tầng mái ngói với tám đầu đao cong vút tựa một bông hoa sen nở. Bản thân thủy đình cũng như một ngọn giả sơn, gợi nên cảm thức về cặp bài trùng sơn thủy giữa chốn đồng bằng. Nhiều tòa thủy đình đã trở thành dấu ấn kiến trúc hoàn mỹ, mang tính biểu tượng cho kiến trúc truyền thống Bắc Bộ.

Buồng trò độc đáo của nghệ thuật rối nước
Nổi tiếng nhất là những thủy đình gắn với loại hình nghệ thuật múa rối nước. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh năm 1121 từng ghi nhận các trò rối nước trong cung đình thời Lý: “Dập dờn lòng sóng, thả rùa vàng đội 3 đỉnh núi… Cửa động lặng mở, thần tiên sánh vai”. Múa rối nước đã có từ lâu, kết hợp với âm nhạc và văn chương tạo nên các vở diễn, trải từ chủ đề thần tiên, chiến trận cho đến đời sống bình dị nơi sông nước như chèo thuyền, trâu đi cày bừa hay bắt cá…, lấy sự hóm hỉnh và niềm vui làm chủ đạo.
Thủy đình làm sân khấu cho rối nước (còn gọi là buồng trò, nhà rối) vào ngày diễn trò, một tấm mành được treo lên làm phông sân khấu, vừa đủ che các nghệ nhân ngâm mình trong nước, vừa đủ để họ nhìn ra con rối và khán giả. Nước là một thành phần của màn diễn, giấu đi hệ thống điều khiển (máy sào). Các quân rối đều được đưa qua mành che bằng cách đi ngầm dưới chân rồi nổi lên hoặc hé mành đi ra.
Giữa lòng châu thổ, các thủy đình múa rối nước cổ tụ hội vẻ đẹp của tài hoa mỹ thuật người Việt. Nằm ở vùng Kinh Bắc xưa, đền Gióng (Phù Đổng) sát chân đê sông Đuống trông ra một mặt nước. Ở giữa hồ là tòa thủy đình 2 tầng, 8 mái có kết cấu chồng rường giá chiêng, chạm khắc hình tứ linh và hoa cúc đặc trưng thời Lê Trung hưng. Phía trước có cầu dẫn ra sân nổi lộ thiên để múa hát dân gian và rối nước vào hội Gióng (9/4 âm lịch). Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một “tỉ lệ vàng” khiến công trình nằm gọn trong một hình tròn cân đối, hơn nữa lại tựa bóng một cây đa khổng lồ chân đê, như một đóa hoa được dải đê xanh uốn lượn bao bọc. Lân cận đó, thủy đình chùa Nành (Pháp Vân tự, Ninh Hiệp) cũng hoàn chỉnh trục thần đạo nhìn về hướng tây, theo nguyên lý hướng về cõi Tây Phương cực lạc của đạo Phật.
Ở xứ Đoài, thủy đình chùa Thầy (Thiên Phúc Tự) đã trở thành hình ảnh biểu tượng của du lịch văn hóa Việt Nam. Nằm trước sân chùa cổ, tòa thủy đình tọa lạc giữa hồ Long Trì mang phong cách kiến trúc từ thế kỷ 17, như thể bay lên từ mặt nước. Quần thể chùa được bố cục thành miệng rồng đang ngậm lấy viên ngọc. Trong lễ hội chùa Thầy từ mồng 5 đến 8/3 âm lịch, múa rối nước chính là điểm nhấn. Cách đó không xa là động Hoàng Xá, nơi có chùa Hoa Vân và thủy đình đơn sơ soi bóng bên hồ nước ngát hương sen mùa hạ với cầu đá 3 nhịp vòm.

Di sản nổi trên mặt nước
Thủy đình gắn bó mật thiết với các làng nghề rối nước. Vùng Thạch Thất xứ Đoài có tới 3 làng nghề rối nước là làng Ra, Chàng Sơn và Thạch Xá. Làng Chàng Sơn vốn nổi danh nghề mộc, cũng có một thủy đình trước đình làng, đã thành hình mẫu cho các thủy đình phục dựng, mở thêm hai gian bên để tăng diện tích sân khấu. Vùng Sơn Nam xưa có làng Tế Tiêu (Mỹ Đức, Hà Nội) hay làng Rạch (Hồng Quang, Nam Trực cũ, nay thuộc Ninh Bình). Tả ngạn sông Hồng có các phường rối Đồng Ngư (Thuận Thành, Bắc Ninh), Thanh Hải, Hồng Phong (đều thuộc Hải Dương cũ nay là Hải Phòng), Nhân Hòa (Hải Phòng), Nguyên Xá (tức làng Nguyễn thuộc Thái Bình cũ, nay là Hưng Yên). Tiêu biểu cho việc bảo tồn di sản là làng rối Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội) với một thủy đình loại lớn đáp ứng nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Không chỉ để múa rối nước, thủy đình còn phục vụ các trò chơi dân gian như đua thuyền, bơi trải ở đình Đăm (Tây Tựu – Hà Nội) hay Triều Khúc (Hà Nội), nay đã nằm trong nội thành song vẫn còn rộn ràng như câu ca dao xưa: “Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy. Vui thì vui vậy chẳng tày rã La”. Tại vùng Kinh Bắc nổi tiếng với nghệ thuật hát quan họ, các thủy đình ở đền Đô (Từ Sơn), Lim, Lũng Giang (Tiên Du), Hoài Trung (Liên Bão) vừa án ngữ trước di tích, vừa là lầu hóng mát tạo cảnh cho các đám hát, gợi lại câu ca xưa: “Ngồi rằng là ngồi tựa mạn thuyền… Trăng in mặt nước, càng nhìn non nước càng xinh”…
Gần đây, các thắng cảnh cũng bắt đầu phục dựng thủy đình, như tại hành cung Vũ Lâm trong Quần thể danh thắng Tràng An. Sắc nâu tím của mái ngói vươn lên giữa mênh mông màu lục của mặt nước và trùng điệp núi non, đọng lại vẻ đẹp như nét vẽ sau cùng hoàn thiện bức tranh non nước đồng quê. Một kiến trúc tưởng chừng khiêm tốn nhưng đã gánh cả lịch sử một di sản dài lâu của người Việt.










