Bài: Hoàng Thư Uyên
Ảnh: Photo Tour Heritage – Huế 2026
Nghệ thuật khảm sành sứ đỉnh cao ở lăng vua Khải Định.
Trong hệ thống lăng tẩm triều Nguyễn ở Huế, Ứng Lăng – lăng vua Khải Định – là một trong những công trình tiêu biểu cho sự kết tinh độc đáo giữa kiến trúc, mỹ thuật trang trí và kỹ nghệ thủ công truyền thống. Công trình được khởi công tháng 9 năm 1920, hoàn thành vào năm 1931, sau 11 năm xây dựng, trở thành dấu ấn đặc biệt trong hệ thống lăng tẩm trên đất cố đô.

Những mảnh vỡ trong sự sắp đặt chọn lọc
Hàng ngàn mảnh sành, sứ và thủy tinh màu được khảm, ghép thành những đồ án trang trí phủ tràn nội thất, làm nên diện mạo mỹ thuật độc đáo cho Ứng Lăng. Những bức khảm nơi đây được thể hiện đến mức xuất thần về nghệ thuật qua đôi bàn tay tài hoa của những người thợ có trong biên chế của Nê Ngõa tượng cục dưới triều Nguyễn một thời.
Từ thế kỷ 18, trong những ghi chép về xứ Đàng Trong, Lê Quý Đôn từng nhắc đến kỹ thuật dùng vôi trộn với mật mía và mảnh sứ để đắp thành hình rồng, phượng, lân, hổ, cỏ hoa trên các công trình kiến trúc, nhưng để đạt đến một đỉnh cao rực rỡ trong nghệ thuật khảm sành sứ, phải đến thời vua Khải Định, đặc biệt là ở Ứng Lăng – nơi yên nghỉ của nhà vua – kỹ nghệ ấy mới thực sự hiện lên như một tác phẩm mỹ thuật toàn vẹn.
Trong lòng kiến trúc được dựng nên từ sắt, thép, xi măng, đá cẩm thạch, ngói ardoise mua từ châu Âu là những đồ án trang trí đậm tính điển chế như long, lân, quy, phụng, bát bửu, ngũ phúc, tứ thời, hay những điển tích Trung Hoa được khảm ghép từ mảnh vỡ đồ sứ, thủy tinh màu và các vật liệu ngoại nhập. Ở Ứng Lăng, những nghệ nhân danh tiếng một thời như Phan Văn Tánh, Ký Duyệt, Cửu Sừng… đã dày công lựa chọn những mảnh sứ, mảnh thủy tinh màu từ các món đồ sinh hoạt, tỉ mẩn gọt, mài, ghép chúng lại thành những kiểu thức trang trí; sau đó khảm bằng loại vữa truyền thống pha chế từ vôi và một số phụ gia, tạo độ kết dính bền chắc. Kiểu thức trang trí ấy không phải là tổ hợp của những mảnh vỡ được lắp ghép ngẫu nhiên, mà là sự sắp đặt có chọn lọc về bố cục, đường nét, hình khối. Thủ pháp phối màu tinh tế đã làm nên các bức phù điêu sống động và gần gũi.

Những đường cong liên hoàn mềm mại của hình rồng, phụng, dây lá, nhành hoa…; đường gấp khúc nghiêm cẩn của đại tự, kỷ hà, hồi văn; hay nét phóng khoáng trong những hình ảnh gợi nhắc vật dụng phương Tây như đồng hồ, khay trà, cây vợt tennis… đã chuyển tải sự giao thoa giữa văn hóa cung đình, mỹ cảm dân gian và hơi thở hiện đại của giao lưu văn hóa qua bàn tay của người thợ khảm. Đó cũng là nét phản chiếu cá tính thẩm mỹ rất riêng của vua Khải Định – một vị vua thường được nhắc đến bởi sự yêu thích cái mới, cái lạ và những thử nghiệm giao thoa Đông – Tây.
Bản giao hưởng của màu sắc
Nơi ngọn Châu Chữ (hay còn có tên Ứng Thuận sơn do vua Khải Định đặt), cách trung tâm thành phố chừng 10km, Ứng Lăng hiện ra một cách uy nghiêm, lộng lẫy. Tùy vào từng mùa trong năm hay từng thời điểm trong ngày, khi đứng giữa cung Thiên Định, trước án thờ nhà vua, dưới bửu tán phía trên tượng đồng, hay bên những ô hộc trang trí nơi điện Khải Thành, người xem có thể cảm nhận những thay đổi khác nhau về thị giác. Mỗi thời điểm mang đến một sắc độ riêng, tùy theo ánh sáng, vị trí đứng, góc nhìn và cả những chuyển động rất nhỏ của không gian xung quanh.

Cảm nhận ấy, đúng hơn, đến từ sự trác tuyệt trong thủ pháp khảm nhằm tạo nên vẻ lung linh ảo diệu cho những đồ án trang trí. Sự phối hợp tài tình của các tông màu trắng, xanh, cam, vàng, đỏ tía theo cảm quan phương Đông đã làm nên hiệu ứng thú vị trong mắt nhìn của người thưởng lãm. Nơi chiếc bửu tán che phủ trên tượng đồng của nhà vua, ở kiểu thức Long phù, đôi mắt khảm thủy tinh của rồng dường như lúc uy nghiêm, lúc hiền hòa tùy thuộc vào góc nhìn và điều kiện ánh sáng. Những kiểu thức trang trí trên mí cửa vòm cuốn, những ô hộc trên tường cũng tạo nên hiệu ứng tương tự.
Một thế giới biểu tượng định hình từ những mảnh vỡ đã làm nên bản giao hưởng đa sắc màu. Có lẽ, qua những bức khảm sành sứ sinh động, vua Khải Định đã biến khu lăng mộ của mình thành một thế giới vừa rực rỡ, vừa trầm mặc; nơi cái đẹp vượt lên cảm thức tang tóc của chốn lăng mộ để trở thành một dấu ấn nghệ thuật đặc biệt của Huế.











