Nhà sử học Lê Văn Lan

Gạo nếp được cho là nguồn lương thực tinh bột đầu tiên của người Việt Nam, ở lúc những vị tổ tiên của dân tộc bắt đầu bước vào kỷ nguyên văn hóa nông nghiệp trồng trọt cấy gặt thời ba, bốn nghìn năm trước.

Gạo nếp là nguyên liệu chính để làm nhiều loại bánh

Phải chăng vì thế, đó là lý do mà cứ đến những dịp giỗ – Tết, tưởng nhớ, nguyện cầu và tôn vinh những giá trị cội nguồn của những bậc tiền bối xa xưa, gạo nếp chứ không phải gạo tẻ, luôn là nguyên liệu để chế biến, làm thức cúng lễ của người Việt Nam.

Những đĩa xôi nếp óng ả, tinh khôi được trịnh trọng đặt trên các bàn thờ cùng khói hương thơm ngát để rồi sau đó được hạ xuống các mâm cơm, bàn tiệc, đã qua suốt mấy nghìn năm đón Tết và cúng giỗ của người Việt Nam.

Phương pháp dùng gạo nếp để làm bánh cũng được truyền tụng có từ thời các Vua Hùng bắt đầu dựng nước. Những chiếc bánh bằng gạo nếp đầu tiên của văn hóa Việt cổ đã có tiền đề, sự gợi ý về hai phương diện tối thiết: “Tạo hình” và “Bao gói”, từ việc người xưa dùng các ống tre nứa đựng gạo nếp trộn xâm xấp nước rồi “lam” (làm chín bằng sức nóng) thành những thanh “cơm lam” hình trụ tròn, thơm thảo, ngon lành. Cho nên, dùng lá cây để gói gạo nếp thành những chiếc bánh hình trụ tròn, rồi “chưng” (luộc) thành bánh, chính là cách thức để làm nên những chiếc bánh cổ truyền dân tộc của người xưa.

Lá gói bánh có thể được trồng hoặc mọc tự nhiên trong rừng

Vì, lá cây bạt ngàn trong môi trường thiên nhiên nhiệt đới và á nhiệt đới luôn là những người bạn hào phóng, thân thiết quen thuộc của đời sống nhà nông. Còn, hình trụ tròn, thì suốt ba, bốn nghìn năm nay, luôn được tín ngưỡng phồn thực trong đời sống tâm linh của những cư dân – chủ nhân các nền văn minh nông nghiệp cổ sơ – nhận diện được sự đồng dạng với vật truyền giống để sinh tồn, sinh sôi của người đàn ông, nên đã lựa chọn để làm cho thăng hoa, thiêng hóa thành biểu tượng, thực hành luôn các nghi thức tôn thờ, trong phạm trù của loại hình tín ngưỡng này.

Những chiếc bánh hình trụ tròn, được gói lá mà ngôn ngữ miền Bắc nước Việt gọi là “bánh Tày” (bánh có hai đầu “tày”, bánh hình cái “chày”, bánh của “người Tày”), và miền Nam gọi là “bánh Tét” (bánh của và cho ngày Tết), đã ra đời trong bối cảnh đó và từ đây, trở thành vật chứng của đặc trưng khá tiêu biểu, thú vị của văn hóa Việt Nam. Trong khi, ở các vùng miền văn minh – văn hóa Ấn Độ giáo, như Chân Lạp, Chăm Pa… chẳng hạn, người ta dùng mỹ thuật – điêu khắc đá để biểu thị và sùng kính “vật giống” của người đàn ông, biến nó thành những chiếc “Linga” uy nghi, cường tráng, thì ở Việt Nam, những cư dân của tín ngưỡng phồn thực, đã thể hiện nó thông qua… thức ăn, thành… những chiếc bánh ngon lành và “chắc bụng”!

Ở làng Thanh Đình, cạnh ngay núi Hùng – đền Hùng trên tỉnh Phú Thọ, cho đến năm 1945, vẫn còn thành kính duy trì một phong tục – nghi thức thờ cúng ngày Tết cổ truyền độc đáo là: Đem một chiếc bánh Tày ngoại cỡ, đến chỗ tảng đá có khe nứt hình bồ dục ở trên đồi làng, trịnh trọng làm lễ dúi đòn bánh Tày đó vào kẽ đá ba lần – gọi là “Đâm chày vào oa” rồi tung chiếc bánh Tày đó, cho dân làng xô nhau vào “cướp”. Người ta tin rằng, ai “cướp” được đòn bánh đó thì sẽ gặp may mắn trong việc sinh đẻ và duy trì nòi giống.

Chỉ đến thế kỷ 15, theo những thông tin từ cuốn cổ thư “Lĩnh Nam chích quái”, mới có chuyện chuyển hóa những chiếc bánh Tày hình ống, thành những chiếc “bánh Chưng” hình vuông, như tên gọi đang thấy bây giờ.

Bánh chưng

Và, Nho giáo – Nho học, có vị thế thượng phong khi ấy, mới từ đấy, khoác cho bánh Chưng những ý nghĩa và giá trị biểu trưng mới: Tượng trưng cho trái đất – đất Mẹ, theo quan niệm “Trời tròn – Đất vuông”! Từ đây những chiếc lá gói bánh, nghiễm nhiên được mang ý nghĩa, giá trị tượng trưng mới: Đại diện cho thế giới kỳ diệu của cây cối – rừng xanh – thảm thực vật… che chở, bao bọc cho trái đất – đất Mẹ!

Những chiếc lá để gói bánh, những chiếc bánh được gói lá, đã hóa thân và được thiêng hóa, đại trà, để mà một lần nữa thành hình thù và vật chứng đặc trưng của văn hóa ẩm thực Việt Nam! Rõ nét và quan trọng, cả đến lúc những công cụ phát triển có thể nghiền, xay… ở qui mô lớn những hạt, củ…thành bột, không chỉ có gạo nếp, mà còn có thêm gạo tẻ, củ sắn, hạt ngô, khoai, đỗ… thành nguyên liệu để chế biến hàng loạt những thức bánh khác nữa, thì ở thế giới những bánh trái ấy, lá vẫn là thứ không thể thiếu. Những chiếc bánh Nếp dẻo quánh, bánh Tẻ săn chắc, bánh Bột lọc trong suốt, giòn sần sật… đều ngon lành và được những chiếc lá bao gói kỹ lưỡng bên ngoài.

Bánh tẻ được làm từ bột gạo, nhân thịt
Tết Xuân này, thưởng thức những chiếc bánh gói lá như thế, hãy nghĩ và nhớ đến thế giới cây lá vẫn đang bao bọc quanh ta, vẫn đang rất hữu dụng trong việc tạo ra những món bánh đậm đà hương vị truyền thống.