Bài: Nam Anh
Ảnh: Xuân Chính, An Thành Đạt, Nguyễn Đình Thành, Nguyễn Phú Đức

Hãy cùng Heritage điểm qua một số làng nghề truyền thống ở miền Bắc để thấy người dân nơi đây không chỉ mến khách mà còn vô cùng khéo léo, tinh tế trong từng sản phẩm thủ công truyền thống.

Làng tò he Xuân La (Phú Xuyên)

Vị trí: Nằm cách Hà Nội chừng 30km về phía đông bắc, làng Xuân La (Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội) lặng lẽ lưu giữ một nghề truyền thống: nặn tò he.

Đặc trưng: Các sản phẩm tò he nơi đây được sáng tạo bởi những nghệ nhân lâu năm, có tâm và tràn đầy nhiệt huyết.

Vào thời các cụ, nghề tò he còn được gọi là nghề “nặn con giống” bởi lẽ những hình nặn khi đó chỉ là những con vật như gà, lợn… nhưng nhiều nhất vẫn là hình nặn những con chim. Về tên gọi “tò he”, có thể là do trước đây một số người hay nặn bột hình chiếc kèn tò te để thu hút sự chú ý của khách. Lâu dần, tiếng tò te từ chiếc kèn trở nên quen thuộc, gắn liền với những người nặn con giống, và được gọi chệch thành “tò he”.

Nguyên liệu chính để làm tò he là bột gạo có trộn ít nếp theo tỉ lệ 10 phần gạo, 1 phần nếp, trộn đều, ngâm nước rồi đem xay nhuyễn, luộc chín và nhào nhanh tay. Sau đó, người ta nắm bột lại thành từng vắt và nhuộm màu riêng từng vắt. Bốn màu cơ bản là vàng, đỏ, đen, xanh lá. Còn về nước màu, những nghệ nhân lâu năm của làng Xuân La vẫn luôn muốn dùng các màu tự nhiên, chủ yếu được chế từ các loại lá cây hay rau củ ăn được. Ví dụ như màu đỏ có thể được lấy từ quả gấc, màu vàng chiết từ củ nghệ, còn lá tràm, lá riềng sẽ tạo ra màu xanh…

Hiện nay, một số người làm tò he đã dùng màu công nghiệp để thay thế, nhưng những nghệ nhân lâu năm của làng thì không làm như vậy. Cái tâm làm nghề không cho phép họ “ẩu” bởi chơi tò he hầu hết là trẻ nhỏ, với những nguyên liệu tự nhiên, tuy rằng làm ra mất nhiều công hơn, nhưng nếu lỡ các em trót ăn hay nuốt phải thì cũng không ảnh hưởng đến sức khỏe.

Làng chuồn chuồn tre ( Thạch Thất)

Vị trí: Đây là sản phẩm thủ công của dân làng Yên (xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội).

Đặc trưng: Chuồn chuồn tre là đồ chơi, đồ trang trí độc đáo với chất liệu dân dã làm từ tre và được những người thợ thủ công tài hoa, nhiều kinh nghiệm tạo ra.

Làng Yên có nghề truyền thống đan thúng, quạt nan từ xưa, còn nghề làm chuồn chuồn tre mới xuất hiện khoảng hơn mười năm trở lại đây.

Gọi là chuồn chuồn tre vì nguyên liệu để làm ra chuồn chuồn hoàn toàn bằng tre, thứ tre dẻo dai, không sâu mọt. Tre được kỳ công lấy về từ miền ngược như các vùng Hòa Bình, Hà Giang… rồi được cạo vỏ, pha thành mảnh nhỏ, phơi khoảng bốn đến năm nắng, sau đó mới được sử dụng. Tre làm chuồn chuồn phải là loại tre bánh tẻ với đốt dài, không già, không non để tre dẻo và ít mối mọt.

Để làm ra một con chuồn chuồn tre mất rất nhiều công sức và đòi hỏi sự khéo léo của người thợ. Tre sau khi qua lựa chọn sẽ tiện thành các đốt, cạo sạch vỏ và chẻ thành từng thanh, rồi đem gọt bớt phần ruột tre để tạo thành thân chuồn chuồn. Có lẽ, khó nhất là công đoạn lắp cánh vào thân chuồn chuồn. Để chuồn chuồn đậu thăng bằng, người thợ thủ công phải tính toán rất tỉ mỉ từ chiều dài, độ rộng của thân và cánh chuồn chuồn. Sau khi lắp ráp xong, phải cho chuồn chuồn đậu thử bằng mỏ lên đầu ngón tay, nếu cân bằng thì người thợ mới gắn keo cố định cánh vào thân. Khi đã thành hình chuồn chuồn, người thợ bắt đầu sơn và vẽ màu trang trí. Đây là công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên trì vì chỉ cần một sơ suất nhỏ, chuồn chuồn làm ra sẽ không được nuột nà, bóng đẹp. Làm chuồn chuồn tre cũng đòi hỏi người thợ thủ công phải chú tâm, yêu nghề và có kinh nghiệm.

Làng mây tre đan (Phú Vinh)

Vị trí: Nằm cách trung tâm Hà Nội 35km theo hướng tây nam, làng nghề mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa, Chương Mỹ (Hà Nội), được biết đến như một trong những làng nghề truyền thống có tiếng.

Đặc trưng: Sản phẩm mây tre đan Phú Vinh đã đạt đến đỉnh cao nhất trong nghệ thuật đan mây tre hiện nay ở Việt Nam.

Với truyền thống lâu đời, ở Phú Vinh nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào một công đoạn nào đó của nghề. Cha truyền con nối, nên bao đời nay người Phú Vinh vẫn sống chết với nghề mây tre đan. Nghề này cũng giúp cho nhiều gia đình trong làng đổi đời, sung túc.

Trước đây, mặt hàng mây tre đan Phú Vinh chủ yếu là các vật dụng sinh hoạt trong gia đình như: rổ, rá, làn. Nhưng đến nay, nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ngày một cao nên người dân nơi đây làm ra những mẫu mã, sản phẩm mỹ nghệ phong phú từ mây tre đan: đồ vật trang trí, đĩa, khay, lọ hoa, rèm cửa, bàn, ghế… 

Làng thêu Quất Động (Thường Tín)

Vị trí: Xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 23km về phía nam.

 

Đặc điểm: Từng nét vẽ cho đến đường kim, mũi chỉ trong các bức tranh thêu của làng nghề Quất Động đều thể hiện sự tài hoa, tinh tế của người nghệ nhân.

Làng Quất Động ở huyện Thường Tín nổi tiếng với nghề thêu ren có từ thế kỷ 17. Để tạo nên một tác phẩm thêu hoàn chỉnh, các nghệ nhân phải tiến hành rất nhiều công đoạn như: vẽ mẫu, căng nền, sang kiểu, chọn chỉ màu rồi mới tiến hành thêu. Muốn vậy, từ khi còn bé, người thợ phải học cách cầm kim, xâu chỉ sao cho đúng, học đâm mũi kim sao cho nhỏ chân và chân chỉ phải bằng phẳng, mềm mượt. Ngoài ra còn phải biết kéo chỉ vừa độ căng và phối màu sắc hài hòa.

Các nghệ nhân thêu làng Quất Động đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm đa dạng, từ các nhóm hàng truyền thống như: câu đối, nghi môn, lọng, cờ, trướng, khăn trải bàn, các loại trang phục sân khấu cổ truyền… đến những bức tranh thêu phong cảnh, thêu chân dung sáng tạo như: nhà sàn Bác Hồ, chùa Một Cột, …

Hiện nay, làng nghề thêu tay Quất Động là điểm đến của nhiều khách tham quan và mua sản phẩm thêu. Bên cạnh đó, các sản phẩm thêu tay Quất Động cũng đã được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.

Làng đan đó Thủ Sỹ ( Hưng Yên)

Vị trí: Nằm cách Hà Nội chừng 60km, men theo đường Quốc lộ 5 và tỉnh lộ 200, chỉ mất khoảng hơn một giờ lái xe, bạn sẽ đến được với xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Đặc điểm:  Người dân nơi đây nổi tiếng với nghề làm đó, lờ từ lâu đời.

Toàn xã có khoảng 500 người dân làm nghề đan đó. Trong đó, có thôn Tất Viên và Nội Lăng làm nghề đan đó, lờ lâu đời nhất. Tuy là nghề phụ lúc nông nhàn, nhưng người dân của xã Thủ Sỹ, ai cũng góp phần nâng niu, giữ gìn và phát triển nghề đan đó nổi tiếng của làng mình.

Nghề này đòi hỏi tính kiên trì, khéo léo và tỉ mẩn. Trong các loại đó bắt cá thì chỉ có lờ bóng và đó ngồi hai cửa là khó nhất. Lờ bóng chủ yếu bắt các loại cá rô, diếc, thia, cấn, chù. Loại này phải dùng trúc đúng độ tuổi vừa cứng, vừa dẻo dai, bởi nan nhỏ như chiếc tăm. Loại đó hai cửa phải trải qua nhiều khâu: Chọn tre giao lóng, đúng độ tuổi, ra nan phải đều đẹp, bó từng bó dùng chân đạp làm cho nan tròn, sạch, mịn, dóc “chân rít” thành mê để đan, kết tràng (thắt lưng, cổ vai, bụng), cuối cùng vào đáy lên vành và xoáy đầu lên lưng.

Hầu như chiếc đó nào cũng phải qua các khâu như vậy, nhưng loại hai đầu làm đáy khó hơn, nếu sai kỹ thuật sẽ bị dẹo đó ngay. Còn các loại đó nằm, nơm, đăng, đáy thì làm đơn giản hơn. Những chiếc đó khi hoàn thiện sẽ được đem hong trên gác bếp, làm tăng độ bền cho sản phẩm.

Một chiếc đó có thể chứa 8-9kg cá, tôm, và là công cụ không thể thiếu để đánh bắt trên sông rạch, vùng chiêm trũng, đầm phá khắp miền Bắc.

 

Đó Thủ Sỹ làm xong được khách các nơi về mua nhiều, nhưng chủ yếu là các hộ gia đình đưa đi khắp các chợ quê trong và ngoài huyện để bán. Nghề đan đó không giàu nhưng cho thu nhập ổn định và đều, từng bước tạo nên thương hiệu cho người dân nơi đây.