Bài: GS.TS. Trịnh Sinh
Ảnh: Phan Huy
Lễ hội chúc tụng và mừng năm mới của người Mường.
Người Mường có một kho tàng di sản văn hóa dân gian khá độc đáo, được lưu truyền từ đời này sang đời khác chủ yếu bằng ký ức chứ không bằng sự ghi chép thư tịch. Vì thế mà khá phong phú, lãng mạn và còn phản ánh được khá nhiều cái chất mộc mạc, chân thành của một dân tộc sống ở vùng thung lũng, chân núi vừa gần Kinh đô Thăng Long xưa mà ít nhuốm màu thị thành, phố chợ…
Người Mường và người Việt có nhiều nét chung từ xa xưa: cùng tiếng nói, cùng một dạng nhân chủng mà các nhà khoa học xếp vào nhóm người nói ngôn ngữ Việt-Mường, thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic) trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Người Mường còn lưu giữ được một pho sử thi truyền miệng nổi tiếng là “Te tấc te đác” (dịch ra tiếng Việt là: Đẻ đất, đẻ nước). Trong sử thi còn nói đến thuở mới khai thiên lập địa, đến ông vua chung của cả hai dân tộc là Dịt Dàng (tức Hùng Vương), đến trống đồng…Bên cạnh kho tàng truyền khẩu này thì còn có nhiều nghi lễ xung quanh đời sống của người Mường quanh nếp nhà sàn và cây lúa nước. Một trong những nghi lễ đó là lễ sắc bùa.
Sắc bùa hay còn gọi là “xéc bùa, séc pùa” trong tiếng Mường, mang ý nghĩa “xách cồng”, nhưng có người giải nghĩa chữ này liên quan đến phép thuật vì bùa có nghĩa là bùa phép, tín ngưỡng…Dẫu cái ý nghĩa ban đầu là gì thì Sắc bùa cũng là lễ hội được người Mường tự tổ chức từ nhiều đời nay mà không ai còn nhớ từ bao giờ nữa.
Lễ Sắc bùa thực chất là một lễ chúc tụng, từ chúc mừng năm mới, chúc sức khỏe, chúc đám cưới, chúc được mùa…Đó là cái mảng vui, lạc quan, lãng mạn trong tâm thức người Mường, đối lập với cái mảng buồn trong lễ tang ma với vai trò của ông Mo đứng ra làm chủ lễ, kéo dài 12 ngày, mỗi ngày lại đọc một “rằng” (trường đoạn) kể về thuở hồng hoang đẻ đất, đẻ nước, công ơn của tổ tiên, thương nhớ người quá cố. Vì là nghi lễ chúc tụng, vui vẻ nên Sắc bùa phải có tiếng hát thay cho lời chúc, mộc mạc như chính những người nông dân Mường, lại có cả tiếng cồng. Nếu không có âm thanh vang xa, trầm hùng thì không thể ra một lễ Sắc bùa. Trong một không gian núi rừng tĩnh mịch thì tiếng cồng có một âm hưởng mạnh mẽ và cuốn hút. Mà không chỉ một chiếc cồng mà phải là một dàn cồng hoặc chiêng, thường là 12 chiếc do 12 thanh niên cầm đánh. Có những vùng chọn lựa dàn cồng, chiêng quy chuẩn hơn, hợp với các thang âm mà người Mường ưa thích. Ví dụ, ở một số phường bùa Thanh Hóa, có người cầm 3 chiếc cồng nhỏ nhất, được gọi là “cồng cái”, là những chiếc cồng theo làn điệu để 9 người cầm 9 chiếc cồng lớn gõ theo. Có khi số lượng cồng lại nhiều hơn thế và người đánh cồng cũng đông hơn, tùy theo quy mô của buổi lễ.
Đứng đầu một phường bùa là một người có uy tín, thường được gọi là Trưởng phường, phải có giọng hát hay. Lời hát mộc mạc, chúc tụng, nhiều khi ứng khẩu, có khi lại hát đối đáp với chủ nhà. Có những điệu hát đã quen thuộc định hình theo năm tháng, như điệu hát “Thường Đang” của người Mường ở Hòa Bình, điệu “hát Mường” hay “hát Xường” của người Mường ở Thanh Hóa. Đôi khi, ngoài tiếng hát, các phường Sắc bùa còn có những điệu múa phụ họa sinh động.
Thường thường, các phường Sắc bùa được tổ chức theo đoàn, “rồng rắn lên mây” ngoằn nghèo đi qua những con suối, bờ ruộng để đến từng ngôi nhà sàn trong bản. Dẫn đầu là trưởng phường cất tiếng hát theo các công đoạn như: hát đi đường, hát vào cổng, hát dưới chân cầu thang, hát xin lên nhà, hát cảm ơn. Mỗi gia đình đều vui mừng tiếp đón phường Sắc bùa. Chủ nhà bày rượu cần, những chiếc bánh đặc sản của người Mường như bánh “Pêng Pang” (bánh chưng) và cỗ bàn tiếp đón. Trong tiếng cồng, chiêng, tiếng hát chất phác miêu tả đời sống và tình yêu xóm làng như trong một lễ Sắc bùa ở Hòa Bình: “Anh em phường bùa chúng tôi/Chúc Tết nhà ông/Trông đi ngó lại/Trâu bò nhà ông/Nhốt buộc đầy sân/Đụm lúa nếp nhà ông/Ăn đến hết tháng 5/Đụm lúa chăm nhà ông/Ăn đến hết tháng 10/Dàn chiêng xéc bùa chúng tôi/Leo qua 9 vai núi/Lội qua 10 áng mây…”
Lễ Sắc bùa được nhiều vùng trung tâm của người Mường xưa như Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động tổ chức, rồi sau đó lan đi nhiều nơi khắp đất nước trở thành một di sản văn hóa phi vật thể của người Mường và cả một số dân tộc khác. Nét đẹp của Lễ Sắc bùa là tính đoàn kết cộng đồng, tình làng, nghĩa xóm. Điều này còn thể hiện trong tục ngữ Mường “Anh em xa không bằng ba nhà chung rộc (xóm)”. Sắc bùa là một ngày hội làng nên với người Mường, hội làng là một dịp vui nhất trong năm “Làng có hội, người có vui”. Niềm vui của người Mường đơn giản, chất phác, chưa nhuốm màu của sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt. Vì thế, cuộc vui tự biên, tự diễn, đi đến từng nhà trong bản làng, chúc tụng lẫn nhau theo một hình thức diễn xướng văn nghệ.
Sắc bùa là một di sản văn hóa rất cổ và có sức lan tỏa nhanh vì có tính cộng đồng mạnh, dễ tổ chức, cũng là nền tảng của sự đoàn kết làng bản, quê hương. Có lẽ chính vì vậy nhà nước đã xếp hạng Hát Sắc bùa là loại hình di sản văn hóa phi vật thể cho một số địa phương như: Hát Sắc bùa Phù Lễ (tỉnh Bến Tre) năm 2017, Hát Sắc bùa của người Mường ở Ngọc Lặc, (Thanh Hóa) năm 2022 và Hát Sắc bùa ở thành phố Đồng Hới và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2024. Có lẽ chính Lễ Sắc bùa thực sự độc đáo ở cái bản sắc hồn nhiên, chất phác của những người nông dân kiêm nghệ sĩ người Mường. Đó cũng là một thế mạnh cần phát triển trong mũi nhọn du lịch trong công nghiệp văn hóa.
Xem thêm bài viết liên quan:


