Khi rừng trở thành “vốn gốc” của kinh tế du lịch

05/06/2026
share

Bài: Ngân Hà – Khánh Chi
Ảnh: Quang Ngọc, Lê Hoàng Vũ, H.Minh, Đ.G, Amachau

Các vùng rừng nguyên sinh, đảo sinh thái và không gian văn hóa bản địa bắt đầu trở thành “điểm đến hot” trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững trở thành yêu cầu tất yếu để tạo giá trị dài hạn.

Buổi sáng ở Đông Giang (Đà Nẵng), mây từ các dãy núi tràn xuống thấp đến mức cảm giác như chỉ cần đưa tay ra là chạm được vào lớp sương dày phủ kín đại ngàn. Dưới mây là những vạt rừng già nối tiếp, xen lẫn tiếng thác đổ vọng ra từ sâu trong núi.

Không gian văn hóa bản địa tạo sức hút riêng cho các điểm đến

Một thập niên trước, vùng đất xinh đẹp này còn chưa có tên trên bản đồ du lịch. Trước năm 2018, du lịch ở đây chủ yếu là các điểm cộng đồng nhỏ lẻ với lượng khách chỉ khoảng 1.000 lượt/năm. Đường sá khó đi. Thiếu sản phẩm đủ sức giữ chân du khách. Những cánh rừng đẹp vẫn nằm đó nhưng chưa tạo được sinh kế hay lợi ích kinh tế cho cộng đồng bản địa.

Khu du lịch sinh thái Cổng Trời Đông Giang là bước ngoặt thay đổi câu chuyện. Khi được khởi công năm 2018 với tổng vốn đầu tư gần 800 tỷ VNĐ, nhiều người từng hoài nghi về khả năng thành công của một khu du lịch quy mô lớn giữa vùng núi phía tây Đà Nẵng: địa hình hiểm trở khiến chi phí xây dựng rất cao, hạ tầng kết nối nhiều hạn chế.

Song, Cổng Trời Đông Giang đã biến chính tài nguyên rừng và văn hóa bản địa thành giá trị lõi của sản phẩm du lịch. Những con thác tự nhiên, không gian rừng già cùng đời sống cộng đồng của người Cơ Tu trở thành những trải nghiệm độc đáo. Ban ngày du khách theo người dân học đan lát, dệt thổ cẩm hay gói bánh truyền thống; buổi tối, họ thưởng thức “Vũ điệu đại ngàn” trong tiếng cồng chiêng của người Cơ Tu. Chính thức vận hành năm 2022, hơn 42.000 lượt khách đã đến Đông Giang chỉ trong năm đầu tiên.

Còn Cù Lao Chàm (Đà Nẵng) được xem như một trong số ít điểm đến vẫn giữ được gần như trọn vẹn cảm giác nguyên sinh của một hòn đảo miền nhiệt đới. Ở đây, giá trị lớn nhất không nằm ở những công trình nhân tạo hay các dịch vụ giải trí quy mô lớn, mà là hệ sinh thái tự nhiên còn được bảo tồn gần nguyên vẹn. Điều khiến du khách quay lại Cù Lao Chàm không phải những khu nghỉ dưỡng sang trọng mà là cảm giác được sống giữa thiên nhiên nguyên sơ. Những cánh rừng phủ kín sườn núi, những rạn san hô trải dài quanh đảo, mặt biển trong nhìn thấy đáy và nhịp sống chậm của cư dân làng chài đã tạo nên sức hấp dẫn khác biệt cho nơi đây khi các điểm đến ven biển đang ngày càng giống nhau.

Ông Lê Vĩnh Thuận, Phó giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Cù Lao Chàm, cho rằng triết lý xuyên suốt của hòn đảo nhiều năm qua là bảo tồn phải đi trước phát triển. “Du lịch có thể tạo ra nguồn thu nhưng nếu làm tổn hại tài nguyên thì cuối cùng chính du lịch cũng mất nền tảng để tồn tại”, ông nói.

Hệ sinh thái nguyên sơ là tài sản cốt lõi của ngành du lịch

Tăng trưởng “không đánh đổi

Từ năm 2005, khi Chính phủ phê duyệt quy hoạch Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm, hòn đảo bắt đầu phân chia rõ các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái và dịch vụ hành chính. Những khu vực rừng tự nhiên cùng hệ sinh thái san hô gần như không được can thiệp. Nhờ cách tiếp cận này, nhiều vùng cảnh quan quanh đảo vẫn giữ được trạng thái gần nguyên bản, trở thành một tài nguyên du lịch hiếm có.

Cũng vì vậy, nhiều dự án du lịch quy mô lớn từng phải điều chỉnh hoặc không thể triển khai theo định hướng ban đầu. Khi Khu du lịch sinh thái biển Cù Lao Chàm rộng 25ha tại Bãi Hương được tái khởi động năm 2016 – 2017, nhiều chuyên gia bảo tồn và cộng đồng địa phương đã lên tiếng về nguy cơ dự án này tác động tiêu cực tới hệ sinh thái của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Cuối cùng, địa phương lựa chọn tiếp tục phát triển du lịch sinh thái cộng đồng quy mô nhỏ thay vì mở rộng đại trà.

Theo thống kê của ngành lâm nghiệp, Việt Nam hiện có gần 14,8 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ hơn 42%. Cả nước có 34 vườn quốc gia và khoảng 178 khu bảo tồn thiên nhiên. Đây là nguồn tài nguyên cảnh quan khổng lồ cho ngành công nghiệp không khói, đặc biệt là hoạt động du lịch sinh thái.

Việt Nam có nhiều lợi thế về tài nguyên phát triển du lịch sinh thái rừng

Các định nghĩa về du lịch sinh thái của Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) và nhiều quốc gia khác đều xoay quanh những yếu tố cốt lõi, gồm: Bảo tồn; Phát triển bền vững; Giáo dục và Trải nghiệm. Đây cũng là thị trường rất lớn, ước đoán khoảng 275 tỷ USD vào năm 2024, và dự kiến có mức độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 12,1%/năm từ năm 2024 đến năm 2033.

Tuy nhiên, phía sau làn sóng đầu tư vào du lịch sinh thái, câu hỏi lớn nhất vẫn là làm sao để phát triển không phá vỡ chính những giá trị tạo nên sức hút của điểm đến. Không ít dự án gắn mác “du lịch xanh”, “sinh thái” nhưng lại mở đường sâu vào rừng, gia tăng mật độ xây dựng hoặc bê tông hóa các không gian tự nhiên. Khi cảnh quan nguyên bản bị thay thế bởi những công trình giống nhau, lợi thế cạnh tranh của điểm đến cũng sẽ biến mất.

Tại Đông Giang, việc phát triển các hạng mục du lịch quy mô lớn giữa đại ngàn kéo theo bài toán về hạ tầng, xử lý môi trường và khả năng chịu tải của hệ sinh thái. Trong khi đó, ở những điểm đến như Cù Lao Chàm, lượng khách tăng nhanh vào mùa cao điểm cũng tạo sức ép không nhỏ về rác thải, nguồn nước và hệ sinh thái san hô quanh đảo.

Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng vấn đề lớn nhất của du lịch sinh thái rừng trong giai đoạn tới không nằm ở việc xây thêm bao nhiêu khu nghỉ dưỡng mà là việc bảo toàn được những cánh rừng, những hệ sinh thái và cảm giác chân thực mà du khách khó tìm thấy ở những điểm đến đại trà.

ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

Đăng ký nhận tin

Đăng ký để nhận thông báo và chương trình khuyến mãi mới nhất. Mọi thông tin liên hệ của bạn đều được bảo mật tuyệt đối.