Bài: Nguyễn Phước Bảo Đàn
Ảnh: Nguyễn Phong
Sự xa hoa, vẻ rực rỡ của kiến trúc… là những gì bạn có thể cảm nhận khi đứng giữa hoàng thành Huế, trước các lầu đài, cung điện chốn kinh đô. Nét khô cứng của khối hình kiến trúc bỗng trở nên mềm mại bởi nhiều kiểu thức trang trí nội, ngoại thất sinh động của nghệ thuật khảm sành sứ. Nói một cách không ngoa, các mảnh vỡ của sứ, thủy tinh màu, qua thủ pháp tạo hình riêng biệt, đã khảm thành hồn cốt cho kiến trúc xứ Thần Kinh.

Những tuyệt tác của thời đại
Trong những thập niên đầu thế kỷ 20, khi cuộc tiếp xúc với văn minh phương Tây diễn ra mạnh mẽ, ở kinh đô Huế xuất hiện nhiều công trình kiến trúc mang hơi thở của thời đại. Những công trình ấy gắn liền với tên tuổi của người đã cố gắng dung hòa văn hóa Đông – Tây, giữa truyền thống và hiện đại trên nhiều phương diện – vua Khải Định (1916 – 1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn.
Tọa lạc bên dòng sông An Cựu, từ năm 1902, Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định sau này) đã lập phủ và đặt tên là An Định. Năm 1917, sau khi lên ngôi, vua Khải Định cho cải tạo phủ thành cung theo lối kiến trúc hiện đại. Sau đó, cung điện này được ban cho Đông cung Hoàng thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) làm tiềm để (nơi ở trước khi lên ngôi vua). Có thể nói rằng, cung An Định là công trình tiêu biểu của Huế được xây dựng theo lối kiến trúc phương Tây cùng các kiểu thức trang trí truyền thống được thực hiện bằng nghệ thuật khảm sành sứ. Từ cổng Tam quan, đình Trung Lập đến lầu Khải Tường, nhiều đồ án đắp nổi sành sứ rất công phu, đặc biệt là 2 bài ngự chế của nhà vua nơi mặt trước lầu Khải Tường. Ở công trình này, người Huế thường kể cho nhau về Cửu Tư Đài (hiện chỉ còn nền móng) – nhà hát lộng lẫy của hoàng gia, nơi kỹ thuật khảm sành sứ được thể hiện đến mức độ tuyệt mỹ với các họa tiết: lý ngư vượt vũ môn, ngũ phúc, bách thọ, ngũ lân… Các họa tiết đậm chất phương Đông được giới thiệu đến quan khách phương Tây như một cách khẳng định hồn cốt văn hóa dân tộc.

Từ cung An Định, nhìn về phía bên kia dòng Hương, giữa hoàng thành nguy nga và cổ kính, Thái Bình Lâu hiện hữu như điểm nhấn sinh động cho bức tranh phong cảnh phương Đông điển hình của kiến trúc nhà rường, lầu các, đài tạ, ngự viên và trường lang… Năm 1919, trên nền cũ của Thanh Hà Thư Lâu, vua Khải Định cho dựng công trình này làm nơi nghỉ ngơi và đọc sách. Điểm ấn tượng ở đây là sự xen cài của ngôi nhà rường truyền thống Huế với kỹ thuật khảm sành sứ trên cùng một kiến trúc. Phủ tràn ở Tiền sảnh, Chính doanh và Hậu doanh là những đồ án trang trí được thực hiện bằng thủ pháp khảm trác tuyệt. Từ bức hoành phi “Thái Bình Lâu” cùng 2 bài ngự chế, những câu đối mang tính răn dạy, đến kiểu thức trang trí lưỡng long chầu thái cực, thần quy phụ hà đồ, lân, chim phụng… trên bờ nóc, bờ quyết. Đặc biệt là đồ án trang trí hải ốc thiêm trù ở mái hồi, thể hiện hình ảnh 3 người già thăm hỏi chúc thọ nhau, như cách chuyển tải ước vọng về sự trường tồn của vương triều và dòng họ.
Cũng trong hoàng thành Huế, nhiều công trình như điện Kiến Trung, Trường An Môn ở cung Trường Sanh, cửa Chương Đức, Hiển Nhân… được xây mới hoặc trùng tu, cải tạo dưới thời vua Khải Định; cùng với Ứng lăng ở núi Châu Chữ phía tây nam kinh thành Huế – nơi yên nghỉ vĩnh hằng của nhà vua, đã tạo nên những dấu ấn đặc sắc của nghệ thuật khảm sành sứ.

Thủ pháp tạo hình từ những mảnh màu vụn vỡ
Những mảnh ghép của vỏ sò, san hô, phiến thạch… là hình ảnh ban đầu điểm trang cho ngôi nhà cư trú chốn dân gian, phát triển thành kỹ thuật khảm sành sứ ở xứ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn như ghi nhận của nhiều thư tịch cổ. Và để kỹ thuật khảm phát triển đến đỉnh cao, ghi dấu một giai đoạn trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam phải đến thời vua Khải Định. Những tên tuổi gắn liền với các công trình mang tính thời đại như Đệ nhất xảo thủ Nguyễn Văn Khả, Lương Quang Duyệt (Ký Duyệt), Cửu Sừng… đã cùng kíp thợ cẩn thận đập vỡ những món đồ sứ, thủy tinh màu quý giá; tỉ mỉ cắt gọt, mài, ghép chúng lại thành đồ án trang trí và khảm lên kiến trúc bằng hợp chất đặc biệt, pha trộn với tỉ lệ nhất định của vôi hàu, dây tơ hồng, cây bời lời, mật mía, giấy dó, bông cẩn… được giã nhuyễn đến độ sánh mịn, giữ vai trò kết dính các mảnh ghép.

Những mảnh màu vụn vỡ không phải là sự sắp xếp ngẫu nhiên trên mặt phẳng, mà là tổ hợp có chọn lọc của hình dáng, đường nét hoa văn trên mảnh sứ, thể hiện các đồ án trang trí trên hình khối dạng phù điêu. Tài nghệ của người thợ khảm thể hiện ở các mảnh ghép liền mạch, cùng nghệ thuật phối màu chịu ảnh hưởng quan niệm ngũ hành phương Đông, trong đó màu vàng gắn với hành Thổ và biểu tượng hoàng gia.
Dưới tuyệt kỹ ấy, những mảnh sứ, thủy tinh màu khô cứng bỗng trở nên mềm mại và sống động như hình họa với dáng hình uốn lượn của rồng, chim phụng, lân, long mã, rùa, của chiếc lá nho, con sóc, hay trong kiểu thức trang trí truyền thống của điển tích phương Đông.
Và rồi, khi nền quân chủ cuối cùng của Việt Nam đã đi hết con đường, những người thợ danh tiếng từ cung đình tản mát đi nhiều nơi, nghệ thuật khảm sành sứ lại một lần nữa trở về với đời sống dân gian, góp phần hình thành nên các kiến trúc phong quang nơi làng xã. Để đến khi công cuộc trùng tu di tích được đẩy mạnh sau khi Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa thế giới năm 1993, những thế hệ truyền nhân của họ, kế thừa kỹ năng nghề, đã “khảm” lại cho Huế nét hào hoa và lộng lẫy, tựa như thời quân chủ hoàng kim.











