Bài: GS.TS Trịnh Sinh
Ảnh: Dũng BHD, Đào Cảnh
Có lẽ những nghiên cứu sớm về ngôi làng ở vùng Bắc Bộ lại là của những học giả người Pháp khi tiếp xúc với Việt Nam trong giai đoạn đầu. Với họ, hình ảnh ngôi làng của người Việt khá lạ lẫm so với làng xã phương Tây. Vì thế, họ đã khảo tả khá tỉ mỉ, ít ra là phần bề nổi của ngôi làng Việt, và đã để lại cho chúng ta nhiều tư liệu quý báu của một lát cắt thời gian hơn một thế kỷ trôi qua.

Một trong những học giả đó là Pierre Gourou. Trong công trình nổi tiếng Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, bản gốc tiếng Pháp xuất bản năm 1936, ông đã khảo cứu khá kỹ về làng Việt ở châu thổ Bắc Kỳ. Theo ông, làng thường có những yếu tố quan trọng như hàng rào, lũy tre, lối vào làng; hai bên lối vào thường có ao; cổng làng thường có 2 hoặc 3 cổng, bên trên có lầu để tuần đêm canh gác. Trong làng thường có bố cục đường cái và các ngõ theo hình xương cá. Bên cạnh yếu tố bề nổi trong kết cấu của ngôi làng, ông cũng nghiên cứu phần đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của làng. Hóa ra, ở làng có sự phân hóa, nhiều luật lệ thể hiện ở câu “phép vua thua lệ làng”, các chức sắc, dòng họ, phe giáp, ngày hội trong làng hết sức sinh động.
Có thể nói, ngôi làng ở Bắc Bộ nói chung và ngoại thành Hà Nội nói riêng đã thực sự là một tế bào hạt nhân đầy sức sống của người Việt, tồn tại hàng nghìn năm. Những học giả Pháp đã có nhận xét khá đúng về làng và tính cách của người Việt, chủ nhân của các ngôi làng. Ví dụ, Jules Silvestre trong sách Đế quốc An Nam và người dân An Nam: tổng quan về địa lý, sản vật, kỹ nghệ, phong tục và tập quán An Nam, xuất bản năm 1889 bằng tiếng Pháp và được dịch, xuất bản bằng tiếng Việt năm 2020, đã miêu tả Thăng Long – Hà Nội bấy giờ khá nhộn nhịp. Ông gọi đó là Kẻ Chợ: “Vào ngày mồng một và 15 âm lịch, ở đó có họp chợ thu hút lượng lớn dân cư đáng kinh ngạc, mỗi mặt hàng có phố riêng, được phân bố chuyên cho một hoặc nhiều làng, cư dân chỉ có quyền lập cửa hàng của họ ở đó. Vào ngày họp chợ, đám đông đông đúc đến mức đi trăm bước phải mất chừng nửa giờ”.

Miêu tả của Jules Silvestre khá chính xác: Thăng Long – Kẻ Chợ bấy giờ là tập hợp làng trong phố, tạo nên diện mạo đặc biệt bên bờ sông Hồng, đúng như câu tục ngữ “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”.
Sau hơn một thế kỷ, đến nay chúng ta có thể hình dung được Thăng Long xưa: vốn là cái chợ – Kẻ Chợ, người các địa phương kéo đến làm ăn, không quên mang theo cả hình ảnh ngôi đình làng cùng lên khai thác Thăng Long. Ví dụ, đình Kim Ngân ở số 42-44 Hàng Bạc, Hà Nội, là di tích quốc gia gắn với nghề kim hoàn Thăng Long.
Theo thời gian và quá trình mở rộng không gian đô thị, nhiều làng Bắc Bộ cũ nay hiện diện trong vùng ngoại thành Hà Nội, trong đó có các ngôi làng nổi tiếng bởi giá trị cổ, di tích, danh nhân và nghề truyền thống. Làng Đường Lâm, nay thuộc phường Sơn Tây, gắn với hai vua là Phùng Hưng và Ngô Quyền. Nơi đây còn là làng có nhiều di tích kiến trúc bằng đá ong độc đáo.

Một di tích nổi tiếng ở ngoại thành Hà Nội là đền Phù Đổng Thiên Vương, hay đền Gióng, ở xã Phù Đổng, Hà Nội. Đây là di tích quốc gia đặc biệt, thờ Thánh Gióng – một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đền là trung tâm của quần thể di tích gắn với huyền tích Thánh Gióng, nổi tiếng với kiến trúc cổ kính và Hội Gióng được UNESCO ghi danh. Ngôi làng quê hương của Thánh Gióng cũng điển hình là làng quê ngoại thành, nhiều đền miếu và có ngày hội làng được gọi là hội Gióng, với các hoạt động như rước kiệu, diễn xướng, tái hiện cảnh Thánh Gióng đánh giặc Ân.
Một mô hình làng cổ còn bảo lưu nhiều kiến trúc đẹp điển hình là làng Cự Đà, ven sông Nhuệ, nay thuộc xã Bình Minh, Hà Nội. Làng còn bảo lưu các kiến trúc cổng làng, đường làng ngõ xóm hình xương cá truyền thống, lại có cả kiến trúc châu Âu đan xen. Làng còn có nghề truyền thống là làm miến, làm tương…

Phần lớn làng cổ hiện nay là các làng nghề truyền thống. Có thể kể đến một số làng nghề điển hình như làng Bát Tràng làm gốm, làng lụa Vạn Phúc quanh năm dệt lụa cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Một số làng nghề nổi tiếng về ẩm thực như nghề làm bún Tứ Kỳ, bánh cuốn Thanh Trì, bún Phú Đô, giò Chèm, nem Vẽ, cốm Vòng, giò chả Ước Lễ. Cũng cần kể đến các làng nghề thủ công truyền thống như nghề kim hoàn ở Định Công, nghề làm rối nước Đào Thục, làng nghề mây tre đan Phú Vinh…
Những làng nghề cổ ở ngoại thành Hà Nội thường có kiến trúc điển hình cho ngôi làng Bắc Bộ. Đó là vốn quý cho ngành du lịch di sản văn hóa.











