Bài: Phạm Minh Quân
Ảnh: Lê Bích, Lê Huy
Trong hệ thống biểu tượng của văn hóa Việt, mỗi linh vật đều mang theo một lớp trầm tích lịch sử và tâm linh riêng. Nếu rồng và phượng gắn với quyền uy và thanh khí, thì con ngựa lại đại diện cho tinh thần năng động, chuyển dịch và mở đường, những phẩm chất hiện diện suốt chiều dài văn minh nông nghiệp và quân sự Việt. Bước sang năm Ngọ, biểu tượng ấy trở nên gần gũi hơn bao giờ hết, mời gọi ta nhìn lại hành trình của một linh vật đã song hành với người Việt từ huyền thoại, lịch sử đến đời sống thẩm mỹ đương đại.
Từ thuở dựng nước, ngựa đã in dấu trong những câu chuyện huyền thoại của dân tộc. Hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng phun lửa ra oai trừ giặc, là biểu tượng của sức mạnh quật khởi, của khát vọng độc lập, tự chủ của người Việt. Trong sử ta, vó ngựa đã in dấu trên mọi chặng đường giữ nước và mở đất. Ngựa chiến của Trần Hưng Đạo tung hoành trên bãi sông Bạch Đằng, ngựa của Hoàng đế Quang Trung vượt dãy Trường Sơn ra Thăng Long thần tốc, và trong đời sống cung đình, ngựa được xem như hiện thân của quyền lực và danh dự cao quý.
Trong đời sống tâm linh, ngựa còn là linh vật làm bạn đường cho các bậc thần linh. Dân gian tin rằng khi các vị thánh, Phật giáng thế cứu dân, dẹp loạn hay ban phúc 4 phương, các Ngài đều “rong ruổi trên lưng ngựa”. Vì thế, khi trở về cõi thiêng, hình tượng các vị thần thường gắn liền với bóng dáng tuấn mã tượng trưng cho sự nhanh nhạy, linh ứng và sức mạnh hộ dân. Bởi vậy, trong các đền phủ miền Bắc, hình ảnh ngựa trắng, ngựa đỏ xuất hiện trang nghiêm dưới chân tượng thánh, là “linh mã” chở thần linh đi khắp bốn phương.
Cao quý nhất trong số đó là ngựa trắng. Truyền thuyết Bạch Mã gắn với việc Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long kể rằng một tuấn mã trắng hiện về chỉ mạch đất, giúp vua hoàn thiện thành lũy. Sau khi ngựa biến mất trước đền Long Đỗ, vua phong là Bạch Mã Đại vương, trở thành một trong Tứ trấn Thăng Long và dấu ấn thiêng trong đời sống Đại Việt.
Không chỉ trong huyền thoại, ngựa còn gắn bó mật thiết với đời sống nông nghiệp và văn hóa dân gian. Từ câu ca dao “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” cho đến thành ngữ “Thẳng như ruột ngựa”, loài vật này hiện diện trong ngôn ngữ Việt như một ẩn dụ về tính cách con người vừa mạnh mẽ, bền bỉ hướng tới thành công, vừa thẳng thắn, kiên trung. “Ngựa hay không quản đường xa” câu nói xưa ấy như một triết lý sống giản dị mà sâu sắc, dẫu chặng đường dài, dẫu khó khăn, vẫn giữ lòng kiên định và tinh thần tiến bước. Rõ ràng, ngựa không đơn thuần chỉ là bạn đồng hành của con người.
Trong tranh dân gian, từ Đông Hồ, Hàng Trống đến Kim Hoàng, ngựa xuất hiện trong nhiều tích truyện quen thuộc như Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, Trạng nguyên vinh quy bái tổ hay Quang Trung cưỡi ngựa hành quân. Những đôi ngựa treo hai bên bàn thờ dịp Tết tạo cảm giác ấm cúng, và vào năm Ngọ, người dân còn cắt giấy hình ngựa gắn lên cành đào để cầu may. Với gam màu mộc mạc từ lá, than, son, tranh dân gian đưa con ngựa vào đời sống một cách tự nhiên, bền bỉ và đầy sức gợi.
Trong cảm quan thẩm mỹ của điêu khắc truyền thống Việt, hình tượng ngựa hiện lên đa dạng và sống động, phản chiếu cả uy quyền lẫn đời sống dân gian. Ở lăng Gia Long, Minh Mạng hay Khải Định (Huế), đôi ngựa đá đứng trang nghiêm như cận vệ của nhà vua, thân hình vạm vỡ, yên cương tinh xảo gợi vẻ uy nghi của triều Nguyễn. Ngược lại, ngựa ở đình Diềm (Bắc Ninh) lại đầy kịch tính với thân ngựa cong khỏe, nhân vật cưỡi ngựa mang dáng vẻ sinh hoạt đời thường, tạo nên nhịp chuyển động giàu kể chuyện. Tới đình Hạ Hiệp (Hà Nội), ngựa xuất hiện trong cảnh rước, đi săn, đua ngựa, những mảnh cắt sinh động của lễ hội làng. Còn ở đình Đại Phùng (Hà Nội), ngựa chiến phi lên cùng đầu rồng phía sau, hòa trộn uy lực và linh khí, tượng trưng cho sức mạnh hộ dân của các bậc anh hùng, một vẻ đẹp dung hòa giữa thực và thiêng trong tâm thức Việt.
Bước sang thời hiện đại, hình tượng ngựa tiếp tục truyền cảm hứng cho sáng tác của nhiều thế hệ nghệ sĩ. Trong địa hạt hội họa, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm là người thổi hồn dân gian vào bức Gióng, tạo nên hình tượng ngựa Gióng với những đường nét biến ảo, dẻo dai và bừng sáng nội lực. Họa sĩ Lê Trí Dũng, người gắn bó cả đời với đề tài ngựa, những bức Giấc mơ đỏ, Nhân mã, Đi săn của ông bên cạnh gợi cảm giác chuyển động, còn thể hiện thứ tinh thần vượt khó đã giúp ông bản lĩnh và nghị lực chiến đấu trong đời. Họa sĩ Trần Huy Đức lại chuyên vẽ tranh ngựa thủy mặc, đặc biệt bức Vó mây thể hiện vó ngựa tung lên như bay trên mây đã tiếp nối tinh thần vượt thoát, hóa giải nỗi đoạn trường gập ghềnh. Con ngựa trong tay nghệ sĩ hôm nay không còn ràng buộc trong khuôn phép cũ, mà hiệu triệu sự sáng tạo không biên giới, cho tinh thần hội nhập và bản sắc cùng song hành.
Từ ngựa sắt Thánh Gióng đến tạo hình ngựa thờ tiếp nối giữa hai thế giới, từ tranh dân gian đến hội họa đương đại, ngựa vẫn luôn đồng hành cùng người Việt trên suốt dải lịch sử dài rộng. Mỗi năm mới đến, khi nghe tiếng pháo hoa rộn ràng hay tiếng vó ngựa tưởng tượng dội về trong tâm thức, ta lại thấy trong đó hình ảnh của sức sống và khát vọng. Ngựa mang hơi thở của gió, của chuyển động, của mùa xuân, biểu tượng cho tinh thần không ngừng vươn lên của dân tộc Việt.
Ngựa trong văn hóa Việt đâu chỉ là con vật, mà là một biểu tượng sống động, một linh khí của đất trời. Và trong nhịp sống hiện đại, khi quán tính con người dần xa rời tự nhiên, hình ảnh ngựa, mạnh mẽ mà dịu dàng, trung thành mà tự do vẫn nhắc ta nhớ rằng sức mạnh thật sự nằm ở sự hài hòa, và tự do lớn nhất chính là được sống trọn vẹn với bản chất của mình. Một khát vọng tự do trong hình hài của sức mạnh!
Xem thêm bài viết liên quan:



