Bài: Thanh Hương
Ảnh: Tonkin
Nông nghiệp vẫn tăng trưởng mạnh dù 2025 được ghi nhận là một trong những năm thiên tai nghiêm trọng nhất lịch sử khí tượng Việt Nam.
Năm 2025 được xem là năm khó khăn chồng chất của ngành nông nghiệp. Căng thẳng thương mại gia tăng, cùng với các yêu cầu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, quy định an toàn thực phẩm trong xuất khẩu nông sản đã tác động không nhỏ đến tăng trưởng của ngành. Thiên tai, thời tiết cực đoan xảy ra trên diện rộng tại Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ… làm giá cả hàng hóa biến động mạnh, đẩy giá vật tư đầu vào cho sản xuất và thương mại nông, lâm, thủy sản tăng cao.
Trong nước, thiên tai diễn biến đặc biệt bất thường. Năm 2025 là một trong những năm thiên tai nghiêm trọng nhất lịch sử khí tượng khi Biển Đông ghi nhận tới 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, mức cao nhất từ năm 1961 đến nay. Bão số 9 (Ragasa) mạnh cấp 17, giật trên cấp 17, trở thành cơn bão mạnh nhất từng xuất hiện tại khu vực. Mưa lớn kéo dài gây lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất trên diện rộng, làm nhiều người chết và mất tích; hàng chục nghìn hộ dân bị ảnh hưởng; kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, đê điều, điện, trường học, cơ sở y tế bị hư hỏng nặng.
Trong tháng 11/2025, Trung Bộ tiếp tục hứng chịu mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản; nhiều diện tích lúa, hoa màu, cây trồng, nuôi trồng thủy sản, công trình hạ tầng nông thôn bị cuốn trôi, vùi lấp.
Tại đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng hạn hán cục bộ, thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, xâm nhập mặn gia tăng tiếp tục đe dọa sản xuất nông nghiệp, thủy sản, cũng như sinh kế của người dân. Tính đến hết tháng 11, thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra trong năm ước vượt 85.000 tỷ VNĐ.
Trong bối cảnh đó, nông nghiệp Việt Nam vẫn giữ đà tăng trưởng tốt với kim ngạch xuất khẩu ước đạt mức kỷ lục 70 tỷ USD.
Ấn tượng thị trường
Mỹ, Trung Quốc vẫn là những thị trường quan trọng, trong khi thị trường châu Âu tiếp tục tăng trưởng, cho thấy sự chuyển dịch tích cực về thị trường cũng như chất lượng hàng xuất khẩu. Xét theo khu vực, châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm tới 45,1% tổng kim ngạch, tiếp theo là châu Mỹ (22,8%), châu Âu (13,4%).
Trong các mặt hàng nông sản chủ lực, cà phê tiếp tục bứt phá. Tháng 11/2025, khối lượng xuất khẩu cà phê ước đạt 80 nghìn tấn, trị giá 463,3 triệu USD; nâng tổng giá trị xuất khẩu 11 tháng lên 1,4 triệu tấn và 7,88 tỷ USD, tăng 14,1% về khối lượng, 59,7% về giá trị so với cùng kỳ. Thủy sản tiếp tục là nhóm xuất khẩu chủ lực với giá trị ước đạt 10,38 tỷ USD, tăng 13,2%.
Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam mới chỉ ở mức 27 tỷ USD, nhưng năm 2024 đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử với tổng kim ngạch xuất khẩu chạm ngưỡng 62,5 tỷ USD; năm 2025 xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đang tiến sát mục tiêu kỷ lục 70 tỷ USD.
Tăng trưởng cao và liên tục trong 2 năm liền cho thấy thành công của nông nghiệp không phải là may mắn hay do thiếu hụt nhất thời mà là vị thế quốc gia xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp hàng đầu thế giới đã được củng cố. Việt Nam đã nâng cao khả năng giữ vững uy tín nguồn cung, thời gian giao hàng ổn định, năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao khi các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, EU đều siết chặt kiểm soát hàng nhập khẩu.
Tuy nhiên, thực tế ngành nông nghiệp và môi trường đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, phức tạp, đan xen giữa phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên, cùng với việc bảo vệ môi trường. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành nông nghiệp và môi trường (1945 – 2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ những thách thức như: tài nguyên thiên nhiên đang suy giảm nhanh, sức chịu tải môi trường nhiều nơi đã tới giới hạn; tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan ngày càng khốc liệt, gây tổn thất lớn về người và tài sản; sự phát triển thiếu bền vững, giá trị gia tăng thấp; công nghiệp chế biến, dịch vụ hỗ trợ, logistics chậm phát triển; liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân còn thiếu chặt chẽ.
“Đây không chỉ là vấn đề kinh tế – kỹ thuật mà còn là vấn đề chính trị, xã hội, an ninh và đạo lý phát triển, đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược, hành động mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong giai đoạn mới”, Tổng Bí thư chỉ rõ.
Trông đợi gì trong năm 2026?
Bước sang năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt trọng tâm vào việc ứng phó biến đổi khí hậu, hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng thị trường, tạo nền tảng bước vào chu kỳ phát triển mới.
Trong năm 2026, Bộ vẫn tiếp tục triển khai theo những nhiệm vụ xuyên suốt, trong đó, ưu tiên hoàn thiện, phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là việc khôi phục hạ tầng những vùng bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai trong năm qua, cũng như những vùng sản xuất hàng hóa nông sản lớn của các vùng miền nhằm giảm chi phí logistics trong chuỗi sản xuất.
“Hậu cần cho nền nông nghiệp vĩ đại của chúng ta hiện nay còn rất mỏng manh. Toàn bộ con đường đi ra của nông sản Việt Nam vẫn chủ yếu chỉ dựa vào một số trục đường bộ, vận chuyển chủ yếu bằng xe container, còn đường sắt, đường biển hết sức hạn chế”, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Hồ Xuân Hùng nhận xét. Ông cũng cho rằng “phải phá được rào cản về cơ sở hạ tầng, logistics mới phá được rào cản của nông nghiệp Việt Nam”.
Bên cạnh hạ tầng, việc áp dụng khoa học – công nghệ vào chuỗi sản xuất cũng là yêu cầu bắt buộc. Trong thời gian tới, Bộ sẽ đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch hành động của Bộ triển khai các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và công nghệ số trong sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản.
Thực tế cho thấy công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của nhiều mặt hàng trong năm 2025: giá trị xuất khẩu cà phê đạt 7,88 tỉ USD, tăng gần 40% về giá; rau quả đạt 7,91 tỉ USD, tăng gần 20%; hạt điều tăng 19,5% giá trị dù sản lượng tăng không nhiều. Đây là minh chứng rõ nhất cho việc đầu tư công nghệ chế biến sâu, chuẩn hóa chuỗi cung ứng đã giúp nông sản Việt Nam dịch chuyển sang các phân khúc giá trị cao hơn.
Song song với hạ tầng và công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định năm 2026 phải tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất. An toàn thực phẩm theo chuỗi là nhiệm vụ xuyên suốt, ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu tiếp tục là yếu tố sống còn.
Một định hướng quan trọng khác là đẩy mạnh chế biến sâu để tăng giá trị. Các ngành có lợi thế như gạo, gỗ, cà phê, tiêu, điều… cần được ưu tiên nguồn lực nhằm giữ vững uy tín cung ứng, đặc biệt với các đơn hàng đầu năm 2026. Hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, chuẩn hóa mã vùng trồng là những việc sẽ được đẩy mạnh để nâng cao năng lực sản xuất ở cấp nông hộ và hợp tác xã.
Ở tầm vĩ mô, dư địa tăng trưởng của nông nghiệp Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt khi khoa học công nghệ, logistics, chuyển đổi số được tích hợp sâu vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Nông nghiệp Việt Nam đang có cơ sở để bước vào năm 2026 ổn định hơn, chủ động hơn để bứt phá mạnh mẽ trên bản đồ nông sản thế giới.
Xem thêm bài viết liên quan:


