Làng Việt

02/03/2026
share

Bài: GS.TS Trịnh Sinh
Ảnh: Amachau

Làng Việt có từ bao giờ? Theo những tư liệu khảo cổ học mới đây khai quật ở di chỉ Vườn Chuối (Hoài Đức, Hà Nội), các nhóm cư dân thuộc thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn có niên đại vài nghìn năm trước Công Nguyên đã lập làng, lập xóm ở đây. Các hố cột nhà sàn, các ngôi mộ cổ tập trung trong khu vựcđược phát hiện chứng tỏ đây là một khu làng khá rộng, cùng với những di tích cùng thời ở Hoài Đức như Chùa Gio, Vinh Quang, Giang Xá, Gò Chùa, Lũng Hồng, Gò Chiền Vậy… tạo thành một khu liên làng sầm uất nhất vùng. Làng Việt buổi đầu ra đời như vậy, quần tụ nhiều nhóm cư dân Việt cổ để cùng khai thác châu thổ sông Hồng, cái nôi của dân tộc Việt.

Langviet 001 Scaled
Làng cổ Hùng Lô (Phú Thọ)

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi làng Việt đã lớn lên cùng dân tộc Việt, cũng mang đầy bản sắc khác với nhiều khu làng ở các nước láng giềng. Bản sắc đó đã được các học giả phương Tây khi mới tiếp xúc lần đầu nhận thấy, ví dụ như học giả Pierre Gourou năm 1936 có viết “được bao bọc bằng một lũy tre mà các cành dày đặc, có gai tạo thành một lũy bảo vệ có hiệu quả chống trộm cướp. Lũy tre là một thứ ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã”. Bên trong lũy tre làng có các con đường làng có ao đôi bờ, 2 hay 3 chiếc cổng làng, thường bằng gạch. Làng còn có giếng làng, đình làng thờ Thành Hoàng, chùa thờ Phật. Đến nay, nhiều ngôi làng Việt vẫn bảo tồn được nét cổ xưa như các làng Đường Lâm (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Ninh), Làng Sấu (Bắc Ninh), Hùng Lô (Phú Thọ)…

Với các nhạc sĩ người Việt, ngôi làng còn là cảm hứng để sáng tác những khúc ca đọng lại sâu lắng trong hồn cốt người Việt, như Văn Cao có những câu hát “Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung. Đời đang vui đồng quê yêu dấu, bóng cau với con thuyền, một dòng sông” (Trích bài hát Làng tôi).

Không gian cộng đồng của làng Việt là cái trực quan, dễ xao động lòng người, nhất là những người xa quê lâu ngày, đã được ca dao, tục ngữ đúc kết lại: “Cây đa, bến nước, sân đình/ Đi xa ta nhớ nghĩa mình, mình ơi”. Đây chính là bộ 3 biểu tượng của làng. Bên cạnh đó còn những rặng tre, dòng sông, mái chùa, mái đền, con đường lát gạch nghiêng , cái giếng làng nơi hẹn hò đêm trăng tròn của bao đôi trai gái…

Langviet 002 Scaled
Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)

Hồn cốt của ngôi làng còn đọng lại trong mỗi di tích tôn giáo của làng, câu tục ngữ: “Chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” cho thấy đã là làng Việt thường có chùa thờ Phật và đình thờ Thành Hoàng. Đấy cũng là nơi lưu giữ di sản vật thể quý giá của mỗi ngôi làng – những mảng chạm khắc gỗ ở đình mà các nghệ sĩ dân gian tạo tác. Đủ các hình tượng từ cao sang quyền quý như rồng, phượng đến các sinh hoạt đời thường được thể hiện bằng các nét chạm tinh tế ở đình làng. Nhiều con vật gần gũi với nhà nông và làng xóm cũng được chạm khắc như ngựa, khỉ, cá, chim, mèo…

Bên trong không gian cộng đồng của làng Việt còn có hệ thống di sản văn hóa phi vật thể, sống động hơn và được truyền tụng qua nhiều lớp thời gian.

Ông Paul Giran trong tác phẩm Tâm lý người An Nam xuất bản năm 1904, đã có nhận xét: Người Việt là “một giống nòi thống nhất đến kỳ diệu, được đặt trên những nền tảng vững mạnh của tổ chức gia đình và xã thôn vốn là hệ thống tập quyền có phân cấp một cách thông minh”.

Người Việt là một dân tộc thống nhất, trước tiên là để chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử. Người Việt không chịu sự đồng hóa của ngoại bang bằng cách tự tôn văn hóa. Nhờ đó mà đến nay trong thế giới Bách Việt (100 tộc Việt), đây là dân tộc duy nhất vẫn không bị đồng hóa bởi thế lực bành trướng. Paul Giran đã đúng khi thấy người Việt là một khối thống nhất trong thể chế phân cấp thông minh là làng Việt (xã, thôn) và gia đình. Một số nhà khoa học cũng thấy được gia đình Việt và làng Việt chính là hạt nhân của xã hội, là “tế bào sống của xã hội Việt” (theo Giáo sư Từ Chi).

Langviet 003 Scaled
Nghi lễ truyền thống tại đình làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh)

Trong làng, có “hương ước” là một dạng luật lệ có tính răn đe mà “phép vua thua lệ làng”, có sự phân cấp ngôi thứ “trọng xỉ hơn trọng tước” (trọng người nhiều tuổi hơn người làm quan), có sự xử phạt nghiêm khắc mà ai cũng sợ. Ở nhiều nơi, nếu phạm những điều cấm kỵ của làng thì bị trục xuất ra khỏi làng mà không được đi qua cổng chính, phải đi qua cổng phụ, cả đời không dám quay về quê hương.

Trong làng còn có những sinh hoạt cộng đồng được tổ chức quanh năm theo lịch trăng: tết Nguyên Đán, tết Trung Thu, lễ Hạ Điền, lễ Thượng Điền… Mỗi làng lại có ngày hội riêng tùy theo ngày sinh và ngày mất của vị Thành Hoàng…

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều vùng quê đã đô thị hóa, ngôi làng Việt đã có thay đổi, ít ra về mặt diện mạo bên ngoài, tuy nhiên, hồn cốt vẫn còn.  Đó là các di tích văn hóa tôn giáo, các lễ hội thường niên đến hẹn lại lên. Nhà nước đã có một ngành “công nghiệp văn hóa” mà mũi nhọn là du lịch, đang được đẩy mạnh. Làng Việt đang góp phần vào bảo tồn giá trị truyền thống, lại đồng thời là một trong những nơi hấp dẫn du khách phương xa. Qua làng Việt, du khách hiểu văn hóa Việt Nam một cách tường tận và chân thực. Với xu thế hòa nhập thế giới, làng Việt vẫn giữ được bản sắc của mình đồng thời cũng giúp cho người làng có thêm thu nhập trong hoạt động du lịch.

ĐĂNG KÝ NHẬN TIN

Ấn Phẩm

Đọc toàn bộ các ấn phẩm đã xuất bản bằng phiên bản online.
xem các số xuất bản