Bài: Nguyễn Chí Bền

Ảnh: Nguyễn Á

Trên nền tảng tín ngưỡng thờ nữ thần có từ xa xưa của văn hóa Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Mẫu Tam phủ phát triển. Khó có thể khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ xuất hiện từ bao giờ trong lịch sử. Người Việt xưa thiêng hóa các vùng không gian trong thiên nhiên, coi mỗi vùng có một vị Mẫu cai quản: Miền Trời có Mẫu Thiên, miền Nước có Mẫu Thoải, miền Rừng có Mẫu Thượng Ngàn, để thờ cúng ba người Mẹ cai quản ba miền. Tâm thức dân gian sau đó lại sáng tạo một vị Mẫu trông coi cõi Người: Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nhưng tại điện thần của các nơi thờ các Thánh Mẫu, chỉ có ba vị: Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và một vị ngồi giữa mà dân gian cho rằng đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được coi đồng nhất với Mẫu Thiên, bởi Thánh Mẫu là con trời giáng trần.

Nhóm cung văn biểu diễn tại buổi tôn vinh tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam

Huyền thoại về Thánh Mẫu Liễu Hạnh tồn tại trong dân gian không biết tự bao giờ, nhưng được các nhà nho chuyển thành sáng tác văn chương. Như tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm; Vân Cát thần nữ, Hội chân biên của nhóm Thanh Hòa Tử hay tập truyện chữ Nôm Liễu Hạnh công chúa diễn âm của Nguyễn Công Trứ. Các ghi chép huyền thoại dân gian cho thấy: Mẫu là tiên trên thượng giới, do mắc lỗi nên bị đày xuống nơi cõi trần, hết hạn về cõi tiên, rồi lại xin xuống cõi trần, quy y theo Phật giáo. Đây huyền thoại ca ngợi người phụ nữ, thể hiện khát vọng giải phóng phụ nữ trong một xã hội mà Nho giáo có ảnh hưởng sâu đậm. Ghi chép của các nhà nho là sáng tạo văn hóa, khiến Thánh Mẫu Liễu Hạnh trở thành nhân vật thiêng liêng, gợi niềm tin vào tình thương bao la, lòng từ bi bác ái của Mẫu. Bởi thế, Thánh Mẫu Liễu Hạnh trở thành nhân vật trung tâm của tín ngưỡng Tam phủ.

Nghệ nhân dân gian Bùi Thị Thắm hầu giá Cô bé

Lịch sử phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã trải qua mấy trăm năm, khiến tín ngưỡng này trở thành một di sản văn hóa gồm nhiều thành tố khác nhau. Người dân các vùng quê lập ra nhiều di tích để thờ Mẫu Tam phủ. Theo ghi chép của các nhà nho, Nam Định được xem là nơi Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh, do đó mà nơi đây tập trung nhiều phủ thờ và là trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, với hơn 400 di tích. Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn được thờ cúng tại các đền, các phủ lớn khác gắn liền với các huyền thoại về Bà như Phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (tỉnh Thanh Hóa), đền Bắc Lệ (tỉnh Lạng Sơn)… Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ lan tỏa ở các tỉnh thành miền Bắc, cho đến Thừa Thiên Huế, TP.Hồ Chí Minh, như một kết nối cộng đồng.

Đồ trang sức, một trong những yếu tố quan trọng tôn lên vẻ đẹp sang trọng và tính cách của từng vị Thánh

Cùng với việc được thờ tự ở các phủ, đền, Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn là nhân vật gắn bó với các sinh hoạt văn hóa và các thực hành nghi lễ như hầu bóng. Trong lễ hội Phủ Dầy diễn ra từ ngày 3-10/3 âm lịch (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), tương truyền là ngày giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người dân đã tổ chức lễ diễn rước Mẫu thỉnh kinh. Ngoài ra còn có trò diễn kéo chữ mà người dân gọi là Hội hoa trượng vào các ngày 7,8,9 tháng 3 âm lịch. Dân gian truyền rằng trò diễn hoa trượng này đã có từ 300 năm nay, trong đó người dân xếp các chữ Thánh cung vạn tuế, Mẫu nghi thiên hạ, Thiên hạ thái bình, Quốc thái dân an. Các chữ được xếp theo lựa chọn của các bậc kỳ lão trong làng. Đó là một trò diễn dân gian đặc sắc của người dân để tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Tam tòa Thánh Mẫu tại đền Chầu Lục, Lạng Sơn

Nếu các sinh hoạt văn hóa liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh chỉ xuất hiện trong lễ hội Phủ Giày thì thực hành nghi lễ hầu bóng hay còn gọi là hầu đồng có thể xuất hiện quanh năm. Những người thực hành nghi lễ này, dân gian gọi là ông đồng bà cốt, phải có “căn”, phải thực hiện nghi thức mở phủ trước khi thực hiện các cuộc lên đồng. Mỗi lần lên đồng, Thánh mượn thân xác của một người, để nhập vào, Thánh là cốt, còn ghế là đồng, một giá đồng. Trong dân gian vẫn lưu truyền tới 36 giá đồng, tương ứng với 36 thần linh là những nhân vật lịch sử văn hóa khác nhau, từ cô Bơ đến ông Hoàng Mười, từ quan Đệ nhị đến quan lớn Tuần Tranh… đây như một hình thức sân khấu tâm linh.

Khi nói tới lên đồng là phải nói tới hát văn. Mỗi giá đồng có một bài hát, hay còn gọi là văn chầu. Mỗi bài văn chầu kể về lai lịch, tính cách, công trạng của vị thánh “ốp” vào thân xác của ông đồng, bà đồng, được quy định chặt chẽ về làn điệu, lời ca, tiết tấu. Các bài văn chầu thường được viết theo thể lục bát, hay song thất lục bát, và có giá trị âm nhạc cao. Khi giá đồng xuất hiện, cung văn sẽ trình diễn văn chầu liên quan đến vị thần linh xuất hiện trong nền nhạc tương ứng là các làn điệu dân gian. Giữa lời hát, tiếng nhạc và động tác trình diễn của ông đồng hay bà đồng là nhất quán với nhau. Sức thu hút của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ có phần nhờ nghi lễ lên đồng – hát văn này, bởi nó thể hiện được nhu cầu, khát vọng về tài lộc, sức khỏe của con người trong đời sống hàng ngày.

Tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đúc năm 1871, tại Phủ Quảng Cung, huyện Ý Yên, Nam Định

Khác các loại tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ có lên đồng, hát văn với tư cách là một thực hành nghi lễ đặc biệt, có sức lôi cuốn con nhang đệ tử, người thực thi tín ngưỡng và cả công chúng trong xã hội. Hát văn luôn biến đổi, khiến sức thu hút của Tín ngưỡng thờ Tam phủ với công chúng ngày càng sâu và rộng. Một số đạo diễn sân khấu đã tách phần nghi lễ, sân khấu hóa một số giá đồng và tạo ra chương trình nghệ thuật hấp dẫn. Điều ấy xảy ra, bởi trong tâm thức con người Việt Nam, vẫn hiển hiện các vị Thánh Mẫu của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ vừa linh thiêng, vừa gần gũi, chứa đựng tình thương bao la của người Mẹ, được coi như một phần bản sắc văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì vậy, Ủy ban Liên Chính phủ theo Công ước 2003 của UNESCO năm 2016 đã vinh danh tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại với tên gọi “Những thực hành nghi lễ liên quan đến Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”.