Trịnh Sinh

Chúc Tết - Tranh Đồng Hồ

Tết là hằng số của bản sắc dân tộc qua hàng ngàn năm. Cái thời khắc thiêng liêng đầu năm là sự xum họp, quây quần quanh mâm cơm gia đình, những cuộc thăm hỏi, chúc tụng, lễ lạt trong họ tộc, làng xóm và cả trong triều đình xưa nữa.

Ngày xưa, ảnh hưởng nhịp sống xã hội nông nghiệp chầm chậm, người Việt ở Thăng Long ăn Tết và chơi Tết không hối hả nên xem ra Tết lại có phần chuẩn bị rình rang hơn mà cũng có vẻ vui hơn, từ việc tự gói và luộc bánh chưng, không quên “thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ” nữa. Nhà nghèo mấy cũng phải có bức tranh Đông Hồ treo trong nhà, vì cái bức tranh màu sắc rực rỡ đó là tín hiệu Xuân sang, làm bật lên cái gam màu thiên về sắc đỏ nổi giữa gam màu nâu bình dị của mái rạ, tường tranh vách đất và tà áo nâu sồng. Thế là tạm đủ một cái Tết ấm cúng trong một mái ấm đơn sơ.

Con cái lễ cha mẹ dịp Tết để thể hiện sự biết ơn đấng sinh thành

Nhưng không chỉ có thế. Tết là dịp thể hiện lễ nghĩa với tổ tiên qua mâm cỗ cúng gia tiên ngày 30 Tết. Còn là lễ nghĩa với người sống nữa “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thày”. Đấy là quy tắc bất thành văn, mà ai cũng phải theo, thể hiện cái chất kết dính phong tục, của lệ làng, biết ơn đấng sinh thành và giáo dục trong một kiếp người.

Đối với vua và các đại thần, Tết là dịp thực hành các nghi lễ quan trọng. Sách An Nam Chí Lược (năm 1335), còn ghi lại không khí Tết ở thành Thăng Long cách đây gần 700 năm: “Ngày 30 Tết, vua Trần ngồi giữa điện Đoan Củng, các bề tôi đều làm lễ, lễ rồi, xem các con hát múa trăm lối. Tối lại qua cung Động Nhân, bái yết Tiên Vương (tức Thái Thượng Hoàng). Đêm ấy đoàn thầy tu vào nội làm lễ “Khu Na” (lễ đuổi tà ma). Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, cỗ bàn trà rượu cúng tổ.

Gian hàng bán hoa thủy tiên trong dịp Tết ở Thăng Long xưa

Ngày Nguyên Đán (mùng 1), vào khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, các Tôn tử (con cháu nhà vua), các quan cận thần làm lễ hạ trước, rồi vào cung Trường Xuân, vọng bái các lăng tổ. Buổi sáng sớm, vua ngồi trên điện Thiên An, các phi tần sắp lớp ngồi, các quan trong nội đứng lộn xộn trước điện đánh thổi các bài ca nhạc trước Đại đình. Con cháu nhà vua và bề tôi sắp hàng bái hạ, ba lần rót rượu dâng lên. Xong, các tôn tử lên điện chầu và dự yến. Các quan nội thần ngồi tiểu điện phía tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu vua, ăn tiệc, đến trưa lần lượt đi ra. Các thợ khéo làm một cái đài “Chúng Tiên” hai tầng ở trước điện, một lúc thì cái đài ấy làm xong, vàng ngọc sáng chói. Vua ngồi ăn trên đài ấy, các quan làm lễ, trước sau chín lạy, và chín tuần rượu rồi giải tán.

Ngày mùng 2 Tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà. Ngày mùng 3 Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng, xem các Tôn tử và các quan nội cung đánh quả bóng (quả thêu), hễ bắt được mà không rơi xuống đất là thắng. Quả bóng lấy gấm mà làm, bằng nắm tay đứa bé, có tua đeo lòng thòng đến 20 sợi (trò chơi “ném còn” mà một số dân tộc miền núi vẫn lưu lại ngày nay).

Tết xưa ở Thăng Long còn kéo dài hơn ba ngày Tết vì mùng 5, làm lễ Khai Hạ (lễ hạ cây nêu, nay thì lễ này được tổ chức vào mùng 7). Vua tổ chức yến tiệc. Sau đó, quan và dân đi lễ các chùa.

The Flower Market in Thang Long
Tet celebrations, as seen in a woodblock print by Henri Oger
A confucian scholar wrote parallel sentences on Tet celebrations, as seen in a woodblock print by Henri Oger

Mặc dù Tết Nguyên Đán chấm dứt vào lễ Khai Hạ, nhưng các cuộc vui vẫn chẳng thể nào tàn. Ngoài việc “ăn Tết” và các lễ nghi trong ba ngày Tết, còn là chuyện “chơi Tết”, kéo dài từ Tết cho đến tận hết tháng Giêng: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Thậm chí, ngay sau Tết đã là mùa lễ hội (Lễ hội rước pháo Đồng Kỵ vào ngày mùng 4, lễ hội Cổ Loa vào ngày mùng 6 Tết). Rồi còn Tết Nguyên Tiêu vào ngày rằm tháng Giêng, Thăng Long lại sáng rực trong ánh sáng hội đèn Quảng Chiếu mà văn bia chùa Đọi còn mô tả hội này vào thời Lý Nhân Tông: “Hai bên nghìn đèn nhấp nháy, bốn mặt rực rỡ vàng son, đêm trở thành ngày. Thỏa tâm mục của thế gian, già nay trẻ lại”.

Tết nay ở Thăng Long đã khác xưa nhiều lắm, giản đơn hơn. Các trò chơi trong dịp Tết đã thay đổi theo nhịp sống hiện đại, chẳng còn tìm thấy cảnh mọi nhà dựng cây nêu đón Tết. Cái giữ lại chính là bản sắc truyền thống: bàn thờ cúng gia tiên, đi lễ cha, mẹ và lễ thày. Đôi chút ngậm ngùi nhớ về Tết xưa, nhưng ngẫm lại cuộc sống vẫn phải tiến về phía trước, mong sao bản sắc, hồn cốt dân tộc vẫn còn.