Yến Chi

Tôi còn nhớ hồi mùa thu năm 2002, khi Huế tổ chức hội thảo quốc tế về bảo tồn nhã nhạc cung đình, các nhà nghiên cứu vẫn còn tranh luận với nhau khái niệm Nhã nhạc là gì? Bởi khi ấy, nguy cơ diệt vong của di sản phi vật thể này rất rõ, nhận thức của cộng đồng, thậm chí của cả giới nghiên cứu về nó hãy còn rất mơ hồ. Vậy mà sau hơn một thập niên nỗ lực bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị, nhã nhạc đã và đang hồi sinh mạnh mẽ, thực sự trở thành một di sản quý báu được cả cộng đồng yêu quý, trân trọng và tự hào.

Biểu diễn Tiểu nhạc trong Nhà hát Duyệt Thị Đường

Nhã nhạc cung đình Việt Nam vốn có lịch sử rất lâu đời, xuất hiện từ thời Lý, quy chuẩn hóa dần trong thời Lê, nhưng phải đến thời Nguyễn thì nhã nhạc mới thực sự hoàn thiện và trở thành điển chế. Nhã nhạc thực chất là lễ nhạc nhưng là loại nhạc chính thống của quốc gia nên có quy mô lớn và tính chuyên nghiệp cao. Mặt khác, lại phong phú và đa dạng về nhiều mặt: thể loại, nhạc khí và âm sắc, hệ thống bài bản, cơ cấu tổ chức dàn nhạc và hình thức hòa tấu, môi trường diễn xướng… Ngoài ra, đây còn là loại nhạc có tính ứng tấu, biến hóa linh hoạt nhưng vẫn mang tính bác học cao.

Ngay sau khi nhã nhạc được UNESCO công nhận vào ngày 7/11/2003, cố đô Huế đã xây dựng và triển khai ngay Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và phát huy nhã nhạc-âm nhạc cung đình Việt Nam, một dự án quy mô với sự hỗ trợ một phần kinh phí của UNESCO. Dự án đã được triển khai trên cả 3 lĩnh vực: khảo sát, nghiên cứu, sưu tầm và tư liệu hóa những gì liên quan đến nhã nhạc; phục hồi một số nhạc cụ tiêu biểu và truyền dạy kỹ năng cho các nhạc công trẻ; quảng bá và phát huy giá trị của nhã nhạc mà đặc biệt là đưa nhã nhạc đến với cộng đồng địa phương, trong nước và quốc tế.

Sau hơn 3 năm triển khai (2005-2008), dự án đã đạt được những kết quả to lớn, được UNESCO đánh giá là một trong những dự án bảo tồn xuất sắc nhất tại khu vực châu Á –Thái Bình Dương. Thông qua dự án này một loạt bài bản quan trọng của nhã nhạc đã được sưu tầm và được số hóa; một số nhạc cụ đã được phục chế thành công, mà tiêu biểu là các bộ biên chung, biên khánh, những nhạc khí vốn đã vắng bóng trong dàn nhã nhạc từ hơn trăm năm trước. Nhưng quan trọng nhất là việc “tìm ra” và lôi kéo các nghệ nhân nhã nhạc quay trở lại với hoạt động trình diễn và truyền dạy các kỹ năng quý báu của họ cho thế hệ trẻ. Họ cũng chính là những người gìn giữ và trao truyền ngọn lửa đam mê môn nghệ thuật này cho các thế hệ tiếp nối. Những nghệ nhân và con cháu của họ đã có cơ hội quay lại làm việc ngay trong hoàng cung, để hàng ngày được sống và gắn bó với nhã nhạc. Những tên tuổi nghệ nhân như Trần Kích, Lữ Hữu Thi… đã vượt qua khỏi biên giới Việt Nam và nhận được sự ngưỡng mộ, trân trọng của cộng đồng quốc tế. Ở Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế có gia đình cụ Lữ Hữu Thi hiện có cả 4 thế hệ cùng tham gia biểu diễn nhã nhạc, mà người cao tuổi nhất năm nay đã bước qua tuổi thứ 105!

Múa Vũ phiên

Tại khu di sản Huế, nhã nhạc đã hồi sinh ngay tại môi trường diễn xướng nguyên thủy của nó. Nhã nhạc được biểu diễn hàng ngày tại nhà hát Duyệt Thị Đường, ở sân điện Thái Hòa, sân Thế Tổ Miếu thuộc hoàng cung, tại nhà hát Minh Khiêm Đường và Xung Khiêm Tạ ở lăng vua Tự Đức để phục vụ du khách. Tại các lễ hội truyền thống như lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc, lễ Thướng Tiêu, Hạ Tiêu, lễ giỗ kỵ của các vị hoàng đế triều Nguyễn… nhã nhạc luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng, làm nên linh hồn của buổi lễ. Trong các kỳ festival văn hóa nghệ thuật, festival nghề truyền thống được tổ chức hàng năm tại cố đô, nhã nhạc cũng luôn được chú ý và tôn vinh.

Nhã Nhạc được mời đi biểu diễn ở nhiều địa phương trong nước và ở nước ngoài, thậm chí được mời biểu diễn ngay bên trong hoàng cung Nhật Bản… Có thể nói, nhã nhạc đã trở thành một trong những đại sứ của cố đô Huế, của Việt Nam trong công cuộc hội nhập văn hóa với thế giới.

Ngay tại địa phương, nhã nhạc đã  được đưa vào trường học và được thế hệ trẻ đón nhận với sự quan tâm, thích thú đặc biệt, nhất là các chương trình giới thiệu và truyền dạy do đích thân giáo sư Trần Văn Khê hay các nghệ nhân thực hiện. Nhã nhạc đã trở thành sợi dây để kết nối thế hệ trẻ với các di sản của cha ông.

Tôi nhớ mãi câu nói của một vị khách sau khi xem xong chương trình biểu diễn nhã nhạc tại nhà hát Duyệt Thị Đường: “Các bạn có một di sản thật đặc biệt và thật đáng tự hào! Nhã nhạc đã giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về tâm hồn và tính cách của người Việt Nam”.

Đúng là nhã nhạc đã hồi sinh và đang tỏa sáng!