Bài: Phương Khuất

Ảnh: Bobby Vũ, Nguyễn Việt Cường

Xuất hiện ở các làng nghề truyền thống đến những bản làng miền núi xa xôi, chất liệu vải tự nhiên qua đôi bàn tay người việt lại mang theo những câu chuyện rất riêng.

Lụa tơ tằm – Ký ức những chợ phiên xưa

Nhắc đến những chất liệu được dệt từ sợi tự nhiên, hẳn lụa tơ tằm luôn được ưu ái đầu tiên, bởi chất liệu này mang đặc tính mịn, mát, và mỏng vừa phải, trời nóng mặc sẽ mát, trời lạnh mặc sẽ ấm. Hơn thế, do có sắc óng ánh đặc trưng, lụa được ứng dụng khá đa dạng trong ngành thời trang, như: đầm dạ hội, áo dài, áo kiểu, bộ pyjama.

Người Hà Nội chắc không thể nào quên ký ức về một phiên chợ tơ lụa đông đúc, chỉ diễn ra vào ngày mồng Một và ngày mồng Sáu tại những con phố sầm uất như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Gai thời Pháp thuộc. Các làng tơ cửi thời ấy chỉ trông mong vào ngày này, để đem mấy chục thước lụa xuống bán cho mợ Hai Hàng Đào – một trong những nhà buôn được nhà văn Tô Hoài nhắc đến và miêu tả rất chân thực. Hình ảnh mợ Hai được tái hiện với dáng “ngồi bệ vệ đo lụa” trong “áo nhiễu trắng, tấm quần lụa trắng tôn người mợ Hai lên thành một ụ lụa”, “Mợ Hai giở xem mấy thước, thấy mặt hàng phẳng, mép biên gọn ghẽ. Thế là xong. Mợ vứt toạch xấp lụa xuống chân sạp…”.

Làng lụa nức tiếng nhất gần Hà Nội phố chắc chắn là lụa Vạn Phúc (nay thuộc Hà Đông, Hà Nội). Lụa Vạn Phúc không chỉ “đi vào” trong thơ ca, phim ảnh mà còn được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương và xuất hiện tại các hội chợ Marseille (1931) và tại Paris (1932). Cạnh tranh với làng lụa Vạn Phúc còn có làng lụa Nha Xá (Hà Nam), tơ lụa Mã Châu (Quảng Nam), tơ lụa Tân Châu (An Giang), tơ lụa Bảo Lộc (Lâm Đồng).

Gấm – Loại hàng từng xếp ngang hàng với vàng bạc

Là mặt hàng khó làm nhất trong các loại hàng lụa dệt hoa, có một thời gấm là loại hàng được xếp ngang giá trị với vàng bạc ở Việt Nam. Gấm bao gồm gấm trơn và gấm hoa. Các loại này được dệt theo kiểu đan nong mốt của kỹ thuật đan mây tre, nên mặt gấm mềm, óng ả, tạo độ ẩm nông sâu, khi ánh sáng mặt trời chiếu vào, màu sắc biến đổi theo góc độ mắt nhìn cảm nhận của con người. Để tạo ra được những chất liệu gấm tuyệt hảo cần có một quy trình kỹ thuật công nghệ nghiêm ngặt với nhiều công đoạn như tơ, hồ sợi, nhuộm, dệt. Những người thợ làng La Khê đã sáng tạo ra hơn 20 mẫu hoa văn, trong đó có những mẫu hoa văn cầu kỳ, với họa tiết cách điệu từ những hình tượng văn hóa dân gian như: “tứ linh” (long, ly, quy, phượng), “tứ quý” (tùng, cúc, trúc, mai) hay hình song hạc, mây, trời, hoa sen,… Do cấu tạo vải gấm dày, độ bóng vượt trội hơn lụa vân, trên một tấm gấm có nhiều màu hoặc tối thiểu cũng hai đến ba màu, nên vải gấm thường được các quý bà quý cô sử dụng trong các dịp trang trọng. Gấm phù hợp để thiết kế áo dài, váy đầm, váy kiểu hay những bộ vest thanh lịch. Ngoài ra gấm còn được dùng để sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, hay để sản xuất chăn ga gối đệm cao cấp.

Thổ cẩm – hồn của vùng cao

Một chất liệu Việt nữa mang nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc vùng cao, đó là thổ cẩm. Thổ cẩm thường để chỉ loại vải tự dệt, có hoa văn dệt theo phương pháp truyền thống của các dân tộc ít người. Cũng là một loại vải được dệt và nhuộm hoàn toàn từ cây, lá tự nhiên, người dân tộc Mông thường gieo trồng cây lanh vào tháng 3 hoặc 4, rồi thu hoạch vào tháng 7 và 8. Cây lanh được bà con đem ra phơi nắng cho khô rồi mới tước thành sợi. Sau công đoạn dệt, người phụ nữ Mông bắt đầu công đoạn dùng kỹ thuật in, vẽ sáp và thêu. Công việc này thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ và còn là tiêu chí đánh giá tài khéo của người phụ nữ Mông. Vải khi đã được nhuộm chàm nhiều lần mới được mang ra may quần áo.

Chất liệu thổ cẩm dày dặn, dai, chắc nên ngoài dùng để may quần, váy, áo, còn được dùng để may túi, ví, khăn. Đồ lưu niệm thổ cẩm được các bạn trẻ, và khách nước ngoài ưa chuộng, vì có màu sắc đặc trưng, rất dễ nhận ra của nền đen, kết hợp với các họa tiết đỏ, xanh, vàng.

Từ mong manh đến thô ráp, những tấm lụa, gấm, thổ cẩm tuy khác nhau về đặc tính, chủng loại, màu sắc, nhưng dưới bàn tay nghệ nhân Việt, mỗi chất liệu lại có những câu chuyện rất riêng. Khi mà xã hội ngày càng hiện đại, thì những làng nghề, ngành nghề cổ truyền lại càng cần được bảo tồn và duy trì, bởi đây là những di sản vô cùng quý giá cho nhiều thế hệ.