Bài: Trân Huyền

Ảnh: Nguyễn Phong, Minh Quân

Từ thuở lập quốc cho đến khi chế độ phong kiến cáo chung, Việt Nam có nhiều kinh đô khác nhau: Phong Châu (Phú Thọ), thời Văn Lang – Hùng Vương (2000 TCN); Cổ Loa / Loa Thành (Hà Nội) thời Âu Lạc – An Dương Vương (257 TCN – 208 TCN) và nhà Ngô (939 – 967); Mê Linh (Vĩnh Phúc) thời Hai Bà Vương dấy nghĩa (40 – 43); Long Biên (Hà Nội) thời Tiền Lý (541 – 602); Đại La (Hà Nội) của ba triều tự chủ: Bố Cái Đại Vương (thế kỷ 8), họ Khúc (905 – 930) và Dương Đình Nghệ (931 – 937); Hoa Lư (Ninh Bình) thời nhà Đinh (968 – 980) và nhà Tiền Lê (980 – 1009); Thăng Long (Hà Nội) của các triều: Lý (1009 – 1225), Trần (1226 – 1400), Hậu Lê (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1529) và Lê trung hưng (1529 – 1788); Tây Đô (Thanh Hóa) thời nhà Hồ (1400 – 1407); Quy Nhơn (Bình Định) thời Nguyễn Nhạc xưng làm Thái Đức Hoàng đến (1787 – 1788); Phú Xuân – Huế (Thừa Thiên Huế) của triều Tây Sơn (1789 – 1802) và vương triều Nguyễn (1802 – 1945).

Đại Nội Huế

Phần lớn kinh đô của các triều đại quân chủ Việt Nam đều có sông ngòi vây bọc, với một con sông lớn làm sông trước và một hệ thống chi lưu – phụ lưu làm những sông sau (chữ của cố giáo sư Trần Quốc Vượng). Chẳng hạn, kinh đô Cổ Loa với hệ sông Hoàng Giang; kinh đô Hoa Lư với hệ sông Ðáy, kinh thành Thăng Long với hệ sông Nhị, kinh đô Huế với hệ sông Hương…

Những dòng sông này không chỉ là yếu tố phong thủy bảo đảm cho kinh đô được bền vững, mà còn là yếu tố cảnh quan của kinh đô, vừa tăng cường chức năng phòng thủ, đồng thời cũng là những tuyến giao thông huyết mạch kết nối kinh đô với bên ngoài.

Đặc điểm này khiến cho các kinh đô cổ của Việt Nam trở thành những “đô thị giữa hai dòng sông”, khác với kinh đô của nhiều quốc gia trên thế giới, vốn là “đô thị hai bên sông”. Kinh đô Thăng Long và kinh đô Huế chính là những biểu trưng hoàn hảo của kiểu thức “đô thị giữa hai dòng sông” nổi tiếng này.

Thái tổ Lý Công Uẩn đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vì vị thế đặc biệt của nơi này: một vùng đất bằng phẳng, cao ráo ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ; có Tản Viên làm chủ sơn để trụ thế; có Nhị Hà làm chủ lưu, hợp với các sông: Tô Lịch, Kim Ngưu, Thiên Phù thành một “mạng lưới nước” để che chở.

Cuộc đất ấy còn các con sông lớn ở phía bắc và phía tây như sông Cầu, sông Lô, sông Đà… xuôi về hội tụ; có những dãy núi trùng điệp từ các phía bắc hướng về như muốn quy phục. Ở phía đông và đông nam, Thăng Long còn được đại thủy của biển Đông chiếu tới nên thần lực rất lớn. Đây chính là địa thế chân long, kết tụ được nhiều nguyên khí của địa hình sông, núi ở chung quanh, xứng đáng chọn làm kinh đô của một quốc gia văn hiến, giống như lời của Thái tổ Lý Công Uẩn viết trong Chiếu dời đô: “Ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước… Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.

Sông Hương ôm ấp Huế

Khác với Hà Nội, kinh đô Huế tuy nằm giữa một dải đất hẹp, một bên là biển Đông bao la, một bên là Trường Sơn hùng vĩ, hội đủ các yếu tố phong thủy, cát tường, nên được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của xứ Đàng Trong và xứng đáng là kinh đô của triều đại Tây Sơn và vương triều Nguyễn.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, sau khi lên ngôi vào năm 1802, vua Gia Long quyết chọn Huế làm kinh đô, vì bấy giờ xứ Huế là trung độ của đất nước, mà không dời đô về Thăng Long, vốn là “thượng đô muôn đời của Đại Việt”. Vua nói: “dựng đô ở giữa nước để cho con đường đi về triều cống cho cân nhau, như nóc nhà ở trên cao mà bốn phía hướng vào, như sao Bắc thần một chỗ mà các sao kia chầu về, quốc gia chúng ta an ổn như Thái Sơn bàn thạch ức muôn năm là gây cơ sở tại đây tốt đẹp lắm thay, thạnh vượng lắm thay”. Còn các sử thần của triều Nguyễn thì nhận xét: Huế là “nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam, miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trước, núi cao ngữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi ấy, là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

Kinh sư của triều Nguyễn nằm trong cuộc đất có núi Kim Phụng làm chủ sơn, núi Ngự Bình làm tiền án, sông Hương làm sông trước và sông Bạch Yến làm sông sau, giữa cuộc đất có sông Kim Long chảy ngang qua giữ vai trò nội thủy, có cồn Hến và cồn Dã Viên ở giữa sông Hương làm tả thanh longhữu bạch h.

Sông Hồng chảy qua thành phố Hà Nội

Sau khi Kinh Thành Huế xây dựng hoàn tất, vua Gia Long cho đào thêm các sông Kẻ Vạn, Đông Ba ở hai mặt đông và tây, đặt Kinh Thành Huế vào một “tứ giác nước” theo đúng mẫu hình “đô thị giữa những dòng sông” như truyền thống định đô của các triều đại quân chủ Việt Nam thuở trước.

Phía tây xứ Huế là những nhánh núi nhỏ tách ra từ đại long mạch của dãy Trường Sơn tỏa xuống. Phía đông có biển Đông giữ thế đại thủy bảo trợ thần lực. Phía nam là đồi núi trập trùng như những thành lũy thiên nhiên che chắn cho kinh đô. Sông Hương hợp với hệ thống sông Truồi, sông An Nông ở phía nam, sông Bồ, sông Ô Lâu ở phía bắc tạo thành những hộ sa để tạo thêm uy thế của đế đô.

Thêm vào đó, sự quy hoạch khéo léo dựa trên những yếu tố có sẵn trong địa hình tự nhiên như sông, núi, cồn, đồi…, cùng sự kiến tạo hợp lý của bàn tay con người đã biến kinh đô của triều Nguyễn thành tổng thể hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên, xứng danh là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận xét của ông Amadou-Mahtar M’Bow, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO về miền đất non nước hữu tình này.