Trúc Lâm

Trên đất Bắc, nghề kim hoàn được biết tới với 3 địa danh nổi tiếng từ hàng trăm năm nay, đó là làng Đồng Xâm ở Thái Bình, phố Hàng Bạc và làng Định Công ở Hà Nội. Mỗi nơi có một kiểu cách làm, mỗi vùng giữ một bí quyết riêng về nghề, từ đó những người thợ làm nghề tỏa ra khắp cả nước để mở các cửa hàng, xưởng kim hoàn chuyên chế tác đồ vàng bạc, đá quý.

Nói riêng về làng Đồng Xâm, một làng cổ đã có lịch sử từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, điều này được khẳng định qua các bản thần tích và đền thờ Triệu Vũ Đế có kiến trúc tuyệt đẹp ngay đầu làng, bên dòng sông Vông. Còn nghề chạm bạc, các bậc cao niên trong làng cho biết, đã có từ hơn 500 năm nay, và vị tổ nghề là ngài Nguyễn Kim Lâu. Đời nọ tiếp nối đời kia, nghề bạc của làng khi thăng khi trầm, song luôn là niềm tự hào của người dân trong làng. Tại đất này, trẻ biết cầm búa gò bạc trước khi học chữ, còn nam nữ thanh niên hầu hết đều thành thạo những kỹ năng của nghề chạm đủ để đi xa lập nghiệp lúc trưởng thành. Trong nghề bạc chia ra làm 3 phương thức chế tác chính là chạm, đậu và trơn thì Đồng Xâm chuyên về chạm. Từ đất này mà sinh ra những bộ ấm chén chạm trổ cực kỳ tinh xảo, các bình hoa, hộp đựng đồ trang sức… có đường nét hoa văn cầu kỳ. Trong hàng trăm hộ làm nghề ở làng, nổi bật lên nghệ nhân Đinh Quang Thắng, tuy nhà ở sâu trong ngõ, không có cửa hàng giới thiệu sản phẩm ngoài đường lớn nhưng luôn tấp nập khách tìm về. Đã tới đây để ngắm nhìn các tác phẩm của anh, ai cũng công nhận đây mới là đích thực tay nghề cổ truyền của làng bạc Đồng Xâm.

Đã có một thời khó khăn, khi cơ chế kinh tế chuyển đổi, làng bạc Đồng Xâm gần như bị đe dọa mất nghề. Đó là lúc mà sản phẩm chạm được mua vào với đơn giá tính theo trọng lượng, tức chạm đẹp chạm xấu thì cũng bằng giá tiền. Thanh niên rời làng tìm lên thành phố, các hợp tác xã giải thể… Trong khoảng 20 năm nay, người Đồng Xâm đa phần chuyển sang làm đồ đồng và mặt hàng chủ đạo là đồ thờ. Bình, lư hương, lọ hoa, tranh, tấm đại tự… bày bán khắp đường làng. Phần vì làm bạc kiểu cũ đòi hỏi nhiều công sức, phần vì thị trường thu hẹp nên nghệ nhân bạc bắt buộc phải đi đúc, gò, chạm đồng, những công việc ít tính sáng tạo hơn. Sự tàn lụi của tinh hoa nghề cũ đã từng được nhiều cơ quan cảnh báo, song thị trường luôn có sự khắc nghiệt riêng và người làm nghề luôn phải chọn cách thức tồn tại cho mình.

Trong bối cảnh đó, nghệ nhân Đinh Quang Thắng, 57 tuổi vẫn miệt mài với những kỹ thuật truyền thống của cha ông. Hầu hết các khâu đều làm bằng tay, từ phác thảo cho tới vào khuôn, từ chạm cho tới tạo hình chi tiết và đánh bóng. Dưới bàn tay tài hoa của ông, những bộ bình, lư sau khi hoàn thiện có một vẻ trầm mặc, cổ kính của tác phẩm nghệ thuật chứ không bị trơ như đồ làm hàng loạt bằng khuôn đúc. Vẫn duy trì sản phẩm bạc, song ông cũng chuyển sang làm các vật dụng thờ cúng bằng đồng, món nào cũng đòi hỏi thời gian gấp nhiều lần nếu đổ khuôn, càng tốn công sức cho những chi tiết rồng, phượng, mây lửa… Còn nhớ cách đây 10 năm, khi nhà nghiên cứu Trịnh Bách bắt đầu công việc phục dựng bộ trang phục của vua quan triều Nguyễn, bàn tay tài hoa của Đinh Quang Thắng đã làm ra những họa tiết trang phục bằng đồng tuyệt đẹp, sống động tới từng chi tiết. Bộ đồ này được trưng bày trong các triển lãm về trang phục cung đình Huế trong và ngoài nước, tạo ra tiếng vang trong dự luận quốc tế về vẻ đẹp tưởng như đã mất của một thời kỳ lịch sử Việt Nam. Đối với công chúng, tất nhiên đây là những sản phẩm mỹ thuật độc đáo, song ít ai biết, để làm được những chiếc kiếm, mũ, hia đó đòi hỏi một quá trình nghiên cứu công phu, bởi hoàn toàn không có vật mẫu để tham chiếu, mọi chi tiết đều chỉ căn cứ vào hình ảnh tư liệu của người Pháp để lại.

Khách tìm về đặt hàng rất đa dạng, từ làm đồng hồ giả cổ kiểu châu Âu thế kỷ 18 – 19 cho tới màng mỹ nghệ, nhiều nhất là đồ thờ, độc đáo hơn là những bộ kim thư, ngân thư (sách vàng, sách bạc). Xưa kia, trong tầng lớp quan lại các triều đại vẫn nhận được kim thư, ngân thư do vua ban tặng như một sự tưởng thưởng cho năng lực phụng sự với triều đình. Cũng có thể đó là sách mà một vị quý tộc phong kiến nào đó thuê thợ chạm làm gia phả hoặc khắc kinh Phật. Ngày nay, đa phần kim thư, ngân thư chỉ còn được biết trong sử sách, từ đó mà hậu thế tìm cách phục dựng lại di vật quý của cha ông. Những đơn hàng đó luôn đặt Đinh Quang Thắng trước thách thức lớn về nghề, song bằng sự nhẫn nại, kiên trì và bàn tay tài hoa, ông vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng.

Miệt mài dưới nếp nhà nhỏ trong lòng làng cổ, Đinh Quang Thắng ngày ngày phác thảo trên giấy những họa tiết, hoa văn mang đậm sắc màu văn hóa Việt, từ đó lại thể hiện thành những nét chạm trên kim loại quý. Từ các họa tiết này mà hồn Việt được lưu truyền tới đời sau. Từ những nét chạm miệt mài, người đàn ông này đang giữ lửa cho nghề tổ, góp phần gìn giữ danh tiếng của làng bạc Đồng Xâm trên đất Bắc.